Tiếng đàn xưa đứt ngang dây
Hai trăm năm lại càng say lòng người
Trải bao gió dập sóng dồi
Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha
Ấy là những vần thơ mà nhà thơ Tố Hữu viết để tri ân đại thi hào Nguyễn Du. “Truyện Kiều” có gì mà làm say lòng người đến thế? Tiếng đàn bạc mệnh của Kiều vì sao vẫn vang vọng đến ngày nay? Có lẽ, chính “Tấm lòng thơ” gắn liền với tình yêu thương con người của Nguyễn Du đã làm nên sức sống mãnh liệt cho “Truyện Kiều”. Điều này được thể hiện rất rõ qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần II “Gia biến và lưu lạc” của “Truyện Kiều”. Sau khi bán mình chuộc cha và bị tên lưu manh Mã Giám Sinh lừa gạt, Kiều vô cùng đau đớn nên đã tìm đến cái chết. Nàng không chịu tiếp khách làng chơi. Không muốn mất đi “món hàng” quý giá này, Tú Bà đã lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ chăm sóc, thuốc thang cho Kiều và hứa sẽ tìm người tử tế để gả nàng đi. Tú Bà giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích. Sống giữa nơi hiu quạnh, Kiều cô đơn và đau lòng đến tột cùng. Tám câu thơ cuối của đoạn trích là tâm trạng của Kiều được thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.
Sau khi nhớ thương chàng Kim và cha mẹ, Kiều lại xót thương cho chính phận mình. “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu”, cảnh vật được cảm nhận bằng tâm hồn của Kiều nhuốm màu buồn thê thiết:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả nỗi lòng Kiều. Điệp từ “Buồn trông” được lặp lại bốn lần kết hợp với các hình ảnh thiên nhiên nhằm diễn tả sự tăng tiến của nỗi buồn. Nó vừa mang sắc thái thảng thốt, lo âu lại vừa thể hiện tâm thế trông ngóng một điều gì đó mơ hồ. Hai câu thơ đầu có thời gian “chiều hôm” gợi lên cảm giác nhớ nhà, khao khát sự đoàn viên. Hình ảnh con thuyền cùng cánh buồm thấp thoáng có ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Cánh buồm nhỏ bé đơn độc giữa muôn trùng sóng nước, chìm vào ráng chiều tựa như hy vọng hạnh phúc của người con gái sắp tàn lụi. Con thuyền mỗi lúc một xa, không biết đến khi nào mới tìm được bến bờ ngơi nghỉ. Nhìn hình ảnh ấy, Kiều chợt nghĩ đến thân phận mình. Cuộc đời lưu lạc của nàng biết khi nào mới chấm dứt?
Câu dao xưa thường lấy những hình ảnh như hạt mưa sa, tấm lụa đào – những sự vật gợi sự mỏng manh, yếu đuối để nói về người phụ nữ. Ở đây, Kiều cũng ví thân phận mình với cánh hoa trôi:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Câu hỏi tu từ “về đâu” được đặt ở cuối dòng thơ gợi lên nỗi băn khoăn, tâm trạng thấp thỏm của Kiều. Nàng không biết trông đợi vào đâu, tương lai chỉ là khoảng không mịt mù. Không gian cửa bể lúc triều lên cuộn xoáy đối lập với những cánh hoa tàn nhỏ bé trôi nổi trên mặt nước. Tâm trạng của Kiều đã được đẩy lên một cung bậc mới. Đó chính là sự vô phương đến hoảng hốt. Nó còn đem đến dự cảm về tương lai sóng gió.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Nếu trong tiết thanh minh, sắc xanh của cỏ chứa đựng sức sống mãnh liệt: “Cỏ non xanh tận chân trời” thì đến đây, khung cảnh lại héo úa, tàn lụi. Từ láy “rầu rầu” diễn tả màu xanh nhàn nhạt, có phần ngả sang vàng. “nội cỏ”, “chân mây”, “mặt đất” mở ra không gian rộng lớn nghìn trùng. Ở nơi ấy, chân trời và mặt đất như nối liền với nhau, kéo dài tít tắp. Kiều trông ra thiên nhiên để tìm kiếm sự tri âm nhưng càng hi vọng thì càng thất vọng não nề. Ánh nhìn của Kiều gợi ta nhớ đến hình ảnh người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm”. Người chinh phụ nhớ thương chồng, nhìn mãi theo bóng chồng mà chỉ thấy thiên nhiên vời vợi:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Cùng là cái “xanh xanh” bất tận diễn tả nỗi buồn, sự cô đơn nhưng nếu người chinh phụ còn có hình bóng chồng để ngóng trông, nuôi dưỡng hi vọng về tương lai đoàn tụ thì Kiều lại chẳng có gì để trông chờ. Kiều thương chàng Kim, thương cha mẹ, khát khao đoàn tụ biết bao nhiêu nhưng xã hội đồng tiền đã đẩy nàng vào con đường lưu lạc không biết đâu là bến bờ.
Hai câu thơ cuối đẩy tâm trạng bi thương của Kiều đến cung bậc cao nhất:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Khung cảnh thiện nhiên đã có sự biến đổi. Gió cuốn mặt duềnh vô cùng dữ dội, sóng gào thét ầm ầm khi thủy triều dâng. Kiều cảm thấy những cơn sóng đáng sợ kia đang bủa vây lấy nàng, bao quanh chân ghế nơi nàng ngồi để rồi kéo nàng xuống đáy vực sâu thẳm. Cơn khủng hoảng nội tâm khiến thế giới quanh Kiều chao đảo. Thiên nhiên không chỉ là những hình ảnh tả thực mà còn ẩn dụ cho những biến cố sắp sửa ập đến. Cảnh được nhìn từ xa tới gần, màu sắc chuyển đổi từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để đồng nhất với tâm trạng cô liêu, tủi thân tủi phận đến vô phương, kinh sợ trong lòng Kiều.
Đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Thông qua thể thơ lục bát truyền thống, điệp từ “Buồn trông” cùng hệ thống các hình ảnh thiên nhiên có tính chất ẩn dụ, hệ thống từ láy giàu sức gợi, đại thi hào Nguyễn Du đã diễn tả một cách tinh tế những cung bậc cảm xúc của Kiều khi bị giam tại lầu Ngưng Bích. Từ đó, nhà thơ bày tỏ niềm xót xa, thương cảm cho hoàn cảnh của nàng và lên án xã hội đồng tiền đã đày ải người phụ nữ đến bước đường cùng.
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những trích đoạn đặc sắc nhất của “Truyện Kiều”. Nguyễn Du quả thực đã làm nên kiệt tác văn học, thể hiện vẻ đẹp của ngôn ngữ và tâm hồn con người Việt Nam:
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Bao thế kỉ qua, Truyện Kiều đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với mỗi người dân Việt Nam, là viên ngọc quý sảng giá trong kho tàng văn học dân tộc. Để có được thành công ấy, bên cạnh nội dung nhân đạo cao cả không thể không kể đến tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du mà đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Tám câu thơ cuối đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là một mình chứng cho điều đó. Mỗi cảnh trong đoạn th gợi ra một nỗi buồn khác nhau nhưng tựu chung lại thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi, tuyệt vọng của Kiều k ở “Lầu Ngưng Bích khỏa xuân", Trong tác phẩm, khi gia đình gặp cơn gia biển, Thủy Kiều quyết định bán mình chuộc chu. Năng bị lửa để vào lầu xanh. Đau đớn và tủi nhục, Kiều tự tử nhưng không thành. Tú Bà lửa năng ra ở Lầu Ngưng Bích, hứa: kén chồng cho năng vào nơi tử tế. Trong giờ phút bên ngoài tưởng như yên tĩnh này thì chính trong lòng Kiể lại ngồn ngang trăm mối. Một nỗi buồn mênh mang đang choán ngẹp tâm hồn Kiều: rời xa người yêu, rời xa cl mẹ để rồi nhìn đầu nàng cũng thấy buồn. Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tỉnh trong cảnh ấy, cảnh trong từ này" để thể hiện tâm trạng Kiều. Những dòng thơ sinh động, dưới cái tài miêu tả nội tâm nhân vật của tác g làm hiện lên một bức tranh vừa gợi tả cảnh thiên nhiên vừa gợi nỗi lòng của Thủy Kiều. Một mình bơ vơ, trơ tr giữa không gian mênh mông, nỗi nhớ nhà quê hương bỗng trỗi dậy trong lòng Kiều.
Buồn trông của bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoảng, cánh buồm xa xa.
Không gian xa rộng, quạnh hiu nơi “cửa bể” như cảng làm nổi rõ hơn thân phận nhỏ bé, cô đơn của Kiể Không gian ấy cộng hưởng cũng thời gian “chiều hôm” - thời khắc gợi nhớ, gợi buồn - khiển như thẳm sâu họ vào tâm hồn người con gái nơi xứ lạ nỗi niềm xót xa. Giữa khung cảnh ấy, trái tim có dơn, tâm hồn trồng vải cần lắm một hơi ẩm, một sự hiện diện của sự sống: "Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”. “Thuyền ở đi chính là hình ảnh biểu tượng cho sự sống con người. Nhưng đó là sự hiện hữu mờ mờ, như có như không, đư diễn tả qua hai từ “thấp thoáng”, “xa xa”. Sự xuất hiện mờ ảo của cánh buồm không làm cho khung cảnh thê thân mật, ấm áp mà cảng gọi sầu, gợi cảm giác có liên cho con người. Không tìm thấy sự sẻ chia từ nơi cửa bì xa xăm, Kiểu hướng tầm mắt về “ngọn nước" gần mình hơn:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
“Ngọn nước mới sa” chứa đựng một sức mạnh của tự nhiên có thể vùi dập, cuốn trôi, hủy diệt những gì ni bẻ. Giờ đây, không gian không chỉ mênh mông rợn ngợp mà nó còn mạnh mẽ dữ dội. “Hoa”, sự vật đẹp đẽ, hương có sắc nhưng lại mềm yếu, chính là hình ảnh phản chiếu của nàng Kiều. Náng xinh đẹp, thông minh như nhỏ bé, yếu ớt trước cuộc đời, xã hội. Câu hỏi tu từ như xoáy vào nổi đau thân phận của nàng, phiêu bạt, vô đị không biết đâu là chốn về, chồn nương náu cuộc đời. Đau xót thay khi Kiều giờ đây như một con chim lạc b đang bay trong giông tố. Tìm đến với thiên nhiên đó mong sao với bớt mối sầu chất chứa trong lòng nhưng cả nhìn cảnh, tâm trạng lại càng rối bời. Dường như nước gọi lên sự lạnh lẽo, bất định, chảy trôi nên Kiều tìm với bờ cỏ xanh, với mặt đất.
Buồn trông nội có rầu rầu
Chân mày mặt đất một màu xanh xanh.
Không phải là “cỏ non xanh tận chân trời" như ngày Tết Thanh mình mà là “nội có rầu rầu” màu vàng úa, h hất, tàn tạ, thê lương càng làm cho Thúy Kiều thêm chán ngân, vô vọng. Thêm vào đó, màu “xanh xanh" gợi sắc thái nhạt, có cây không còn nét tươi tắn, không mang sức sống, hi vọng nữa mà ảm đạm, tẻ ngắt. Màu hay cũng chính là tâm hồn của Thúy Kiều đang héo úa, heo hất, rệu rã trước cuộc đời. Đặc biệt, nội có “rầu rầ nhuốm màu đau thương ấy còn trải ra đến vô tận, bao trùm toàn bộ không gian “chân mây mặt đất” gợi cuộc số ủa tân, bị thương, vô vụng kéo dài không biết đến bao giờ. Tâm trạng thúy Kiều rơi vào trạng thái hoảng hốt, tỉ thức bấn loạn vô cùng, nhìn đâu cũng thấy vô vọng.
Trong hoàn cảnh cô đơn, đau khổ, Kiều cần một tiếng vọng của sự sống con người nhưng đáp lại nàng chỉ những thanh âm hãi hùng của thiên nhiên:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
Âm ẩm tiếng sông kêu quanh ghế ngồi.
Biển khơi đang êm ả, phẳng lặng bỗng vang lên những âm thanh ghê gớm, khủng khiếp. Tầm nhìn của Kiều hướng từ xa về gần, từ cao đến thấp, mong mỏi kiếm tìm một sự đáp vọng. Thanh âm duy nhất đáp lại nàng là tiếng sóng “ầm ầm”, “kêu quanh ghế ngồi”. Tiếng sóng ầm ầm khắp bốn phía như trực sẵn, chờ lao đến cuốn lấy thân phận nhỏ bé của Thúy Kiều, như sẵn sàng đẩy con người xuống vực thẳm. Kiều hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng trong nghịch cảnh trớ trêu của mình. Sóng gió biển khơi hay sóng gió cuộc đời đang đón đợi nàng? Đó là những âm thanh định mệnh báo trước một tai ương đầy bất trắc.
Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như ngụ tỉnh. Cảnh và tỉnh uốn lượn song song, mỗi cảnh là một bức tranh tâm trạng. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác đến âu lo, kinh sợ. Cảnh vật thay đổi, bốn bức tranh tạo thành một bộ tranh tứ bình về tâm trạng của Kiều. Cụm từ “Buồn trông... " mở đầu câu thơ lục tạo âm hưởng trầm buồn đã trở thành điệp khúc đoạn thơ và điệp khúc tâm trạng Thúy Kiều. Những câu hỏi tu từ cùng với một loạt các từ láy gợi hình gợi cảm đã góp phần làm xô dậy những cơn sóng lòng của Kiều. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” cho ta thấy rõ những nét tâm trạng của Kiều, giúp ta có những dự cảm đau đớn về tương lai Kiều phía trước đồng thời làm sáng lên cái tài, cái tâm và cái tầm của một thiên tài Nguyễn Du.
Đoạn trích được nhiều người biết đến và quý trọng. Có lẽ vừa bởi cái tải lớn của Nguyễn Du trong bút pháp - tả cảnh ngụ tỉnh vừa bởi tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa lớn của ông lay động tâm thức người đọc một nỗi xót xa, đồng cảm với thân phận của những con người tài hoa bạc mệnh.
Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!
Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK