Ta là một phụ nữ sống ở vùng quê Gióng, vào thời vua Hùng Vương thứ sáu. Đất
nước khi đó rất thanh bình. Nhà vua anh minh, thương dân nên nhà nhà đều được
hưởng ấm no, hạnh phúc. Vợ chồng ta sống trong một ngôi nhà nhỏ, chăm chỉ làm
ăn, vui vầy với xóm làng, chẳng bao giờ phải lo đến cái đói. Nhưng cả hai luôn
cảm thấy phiền lòng vì gian nhà vắng tiếng trẻ thơ. Hai vợ chồng cứ côi cút mãi
trong nỗi mòn mỏi mong ngóng một đứa con cho khuây khoả tuổi già.
Một ngày nọ, ta đi ra đồng làm ruộng nhừ bao ngày khác. Bỗng ta nhìn thấy trên
đường đi một dấu chân to kì lạ. Ta chưa bao giờ thấy một dấu chân nào to như thế
và băn khoăn không hiểu đó là dấu chân của loài nào. Ta quay xung quanh tìm kiếm
xem có ai không nhưng trời còn sớm, đường làng vắng hoe. Nỗi tò mò thôi thúc ta
đặt chân ướm thử. Thật không ngờ sau đó, ta về nhà và thụ thai.
Hai vợ chồng mừng rỡ khôn xiết, ngày đêm trông ngóng đến ngày sinh nở. Nhưng hết
chín tháng mười ngày rồi mà ta vẫn không lâm bồn. Cái thai vẫn nằm yên trong
bụng. Chúng ta lo lắng quá mà không biết phải làm sao. Nhưng rồi đến tháng thứ
mười hai thì vợ chồng đã được đón chào một cậu bé con. Chao ôi! Đứa bé mới đáng
yêu làm sao: bụ bẫm, kháu khỉnh, khôi ngô như một tiên đổng nhỏ. Hai vợ chồng
vui mừng khôn xiết, bà con trong làng cũng chia vui với niềm hạnh phúc.
Tuy nhiên, niềm vui nhanh chóng qua đi khi chúng ta chăm chút, nâng niu mãi mà
thằng bé vẫn cứ như lúc lọt lòng. Không nản lòng, hai vợ chồng vẫn cố gắng chăm
lo cho nó. Ngày tháng vẫn trôi qua trong vô vọng Đã lên ba mà thằng bé vẫn
không biết đi, không biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đấy. Không biết bao đêm
ta nằm khóc thầm, phần vì thương con, phần vì tủi phận.
Rồi một hôm loa sứ giả truyền tin giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi, vua Hùng muốn
chiêu mộ người tài giỏi để giết giặc bảo vệ đất nước. Đang lo lắng vì thông tin
giặc giã, chúng ta vô cùng sửng sốt khi nghe thấy tiếng con:
Mẹ ra mời sứ giả vào đây. Ta không tin nổi vào mắt và vào tai mình. Con ta
đang nói đấy ư? Vẫn còn bàng hoàng, ta vội vàng chạy ra mời sứ giả, trong lòng
vẫn không khỏi băn khoăn, lo lắng. Khi sứ giả vào nhà, đứa con vốn hằng ngày
chẳng nói chẳng cười bỗng dưng cất tiếng dõng dạc: Ông về tâu với vua sắm cho
ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ
giặc này. Sứ giả tỏ ra vô cùng kinh ngạc nhưng cũng không giấu được sự mừng rỡ,
vội vã chào chúng ta rồi ra về. Hai vợ chồng mừng vui khôn xiết ôm chầm lấy con.
Kì lạ thay, từ sau hôm đó, thằng bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không
no, áo vừa mặc xong đã đứt chỉ. Hai vợ chồng vô cùng vui mừng, cật lực làm lụng
để nuôi con nhưng làm ra bao nhiêu cũng không đủ, đành phải chạy nhờ bà con, lối
xóm. Bà con biết chuyện đều hết lòng giúp đỡ, góp gạo nấu cơm, đội cà, dệt vải
may áo, mong cho thằng bé mau lớn để giết giặc giúp dân.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Mọi người hết sức lo lắng. Vừa lúc đó, sứ giả của nhà
vua mang ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt tới. Cậu bé trông thấy liền vùng dậy,
vươn vai một cái, bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong
lẫm liệt. Cả dân làng đều hết sức kinh ngạc. Kì lạ hơn khi nó đến vỗ vào mông
con ngựa thì ngựa sắt cũng hí lên vang dội khắp cả vùng. Nó mặc áo giáp sắt, cầm
roi sắt rồi nhảy lên lưng ngựa. Dân làng hò reo vang dội. Con ngựa hí vang, phun
lửa đỏ rực, chói cả một góc trời. Con trai ta thúc ngựa, phi thẳng đến nơi có
giặc. Nó đi đến đâu, quân giặc chết như ngả rạ đến đấy, hết lớp này đến lớp
khác. Đang thế thắng như chẻ tre, bỗng roi sắt gãy, con ta bèn nhổ các bụi tre
bên đường quật vào lũ giặc. Quân giặc tan tác. Những tên còn sống sót chạy tán
loạn. Con ta đuổi theo chúng đến tận chân núi Sóc. Rồi tại đây, nó cởi áo giáp
sắt, để ngay ngắn trên một tảng đá, quay lại nhìn quê nhà như gửi lời chào tạm
biệt rồi cùng ngựa sắt bay về trời.
Vợ chồng ta cùng bà con lối xóm vừa mừng vì giặc tan, vừa buồn vì phải xa con.
Nhưng biết sao được, con ta là người nhà trời, được Ngọc Hoàng phái xuống để dẹp
giặc yên dân, xong việc rồi phải về trời thôi.
Vua Hùng đã sắc phong cho con trai ta là Phù Đổng Thiên Vương. Dân làng cũng lập
đền thờ ngay trong làng để tưởng nhớ người anh hùng cứu dân. Tháng tư hằng năm
dân làng đều mở hội rất to để ghi nhớ công ơn của con trai ta và để nhắc nhở cho
con cháu đời sau nhớ về Phù Đổng Thiên Vương.
Thời gian thấm thoắt như thoi đưa. Thằng bé đã về tròi được lâu lắm rồi. Vợ
chồng ta ngày đêm mong nhớ con, nhưng vô cùng tự hào khi nghĩ rằng con mình đang
đi khắp mọi nơi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bình yên cho bà con, cho mọi nhà.
Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nọ. Họ sống hiền lành, phúc đức. Tuy tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con.
Một lần, người vợ ra thấy một vết chân to. Bà đặt chân vào ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà thì thụ thai. Đến mười hai tháng sau sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô, tuấn tú. Lạ thay, cậu bé lên ba vẫn chưa biết nói, biết cười, ai đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ, giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua vô cùng lo lắng, bèn cho truyền sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài cứu nước. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng rao, liền nói với người mẹ:
- Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!
Sứ giả vào, cậu bé nói:
- Ông hãy về tâu với đức vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này.
Sứ giả nghe xong, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội vã trở về tâu với vua. Nhà vua cho truyền thợ rèn ngày đêm làm gấp những thứ cậu bé yêu cầu. Kể từ hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi cậu bé, phải chạy nhờ bà con làng xóm. Ai cũng vui vẻ giúp đỡ vì mong cậu đánh giặc cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước đang lúc lâm nguy. Đúng lúc đó thì sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Cậu bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành tráng sĩ. Mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt vô cùng. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ cưỡi ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác. Giặc chết như ngả rạ. Bỗng nhiên, roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ, bỏ chạy. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn. Tráng sĩ đuổi đến chân núi Trâu. Đến đây, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, c ởi bỏ áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay lên trời.
Vua nhớ công ơn, phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà. Những nơi ngựa phi qua để lại ao hồ. Rặng tre bị ngựa phun lửa cháy trở nên vàng óng còn có một làng bị ngựa phun lửa cháy được gọi là làng Cháy.
Bài văn mẫu số 2
Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nổi tiếng là chăm chỉ, hiền lành và phúc đức. Hai ông bà đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con. Một lần, bà ra đồng thì trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân lên ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Đến khi về nhà, bà lại thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Kì lạ là, đứa trẻ lên ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, ai đặt đâu thì ngồi đấy.
Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Thế giặc mạnh khiến nhà vua lo sợ. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng sứ giả bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, cậu liền bảo: “Ông về tâu với nhà vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, liền vội vàng về tâu với nhà vua.
Kể từ sau hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no. Hai vợ chồng làm ra không đủ để nuôi con, phải nhờ cậy bà con hàng xóm. Ai cũng vui vẻ giúp đỡ vì đều mong cậu bé có thể đánh tan lũ giặc.
Lúc bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước lúc này rất nguy. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Bỗng, chú bé vùng dậy, vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc. Giặc bị tiêu diệt hết lớp này đến lớp khác. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm lên nhau chạy trốn.
Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Nhà vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ ở quê nhà.
Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Người ta còn kể rằng những bụi tre ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng, còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Người ta còn kể rằng ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy.
Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!
Lớp 6 - Là năm đầu tiên của cấp trung học cơ sở, chúng ta được sống lại những kỷ niệm như ngày nào còn lần đầu đến lớp 1, được quen bạn mới, ngôi trường mới, một tương lai mới. Hãy tận dụng cơ hội này để làm quen và hòa nhập thật tốt!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK