Đáp án:
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người chiến sĩ cộng sản trung kiên, hiến dâng trọn cuộc đời cho cách mạng, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản, Võ Nguyên Giáp đã giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng khi mới 14 tuổi (1925). Mười lăm năm sau, người chiến sĩ cách mạng ấy được kết nạp vào Đảng và được Trung ương cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (1940) khởi đầu quá trình phát huy tài năng, đức độ, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng củaĐảng và dân tộc.
Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng với phương pháp sáng tạo, hiệu quả cao; được Hồ Chí Minh ủy quyền công bố Sắc lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944). Thông qua hoạt động thực tiễn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng vào xây dựng, chuẩn bị lực lượng chính trị, quân sự vững mạnh, bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công đảm nhiệm các trọng trách: Tổng tư lệnh Quân đội, Tổng Chính ủy, Tổng Quân ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, v.v. Đại tướng đã đóng góp quan trọng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, trưởng thành về mọi mặt, là Quân đội anh hùng, bách chiến, bách thắng, tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Tên tuổi, sự nghiệp của nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị lỗi lạc - Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gắn liền với Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Khi đất nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới, dù ở cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Thủ tướng Chính phủ, hay đã nghỉ hưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết của người cán bộ, đảng viên, có nhiều đóng góp quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước, nhất là trong phát triển khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền; mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và thế giới, v.v. Đặc biệt, Đại tướng dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ tiến hành nghiên cứu, tổng kết các công trình khoa học về: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng, nghệ thuật quân sự, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy… thể hiện tinh thần sống ngày nào cũng là vì nước, vì dân ngày đó(1) của mình. Những công trình này là tài sản vô giá, cẩm nang quý báu đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội ta trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt đời tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, hết mực yêu thương cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có được sự yêu mến, kính trọng của các tướng lĩnh đến những người lính bình thường trong toàn quân bằng tên gọi gần gũi, thân thương “Anh Cả”, “Anh Văn”; nhân dân vinh danh là “Đại tướng của nhân dân”; phía bên kia chiến tuyến dành sự tôn trọng, nể phục, gọi là “Vị tướng huyền thoại”, v.v. Điều đó có được bởi trong Đại tướng đã hội tụ đầy đủ các phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; các đức tính của người làm tướng Trí, Dũng, Tín, Nhân, Liêm, Trung theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xem đó là phương châm sống, phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng suốt đời.
Khi đảm nhiệm Tư lệnh các chiến dịch, Đại tướng luôn sâu sát, cùng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nghiên cứu, trinh sát nắm chắc tình hình chiến trường để tìm ra phương án tác chiến tối ưu nhất với phương châm: Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh; kiên quyết, dứt khoát phải giành cho bằng được thắng lợi dù địch mạnh đến bao nhiêu nhưng phải hạn chế cao nhất sự hy sinh xương máu của chiến sĩ, đồng bào. Trước, trong và sau mỗi trận đánh, Đại tướng đều đến tận chiến hào để thăm hỏi, động viên, chia sẻ với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, nhất là các đồng chí thương binh, gia đình liệt sĩ; căn dặn bộ đội quan tâm, giúp đỡ chính quyền, nhân dân địa phương ổn định tình hình, khắc phục khó khăn, thực hiện tốt công tác chính sách hậu phương quân đội, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất, nâng cao đời sống đồng bào. Từ quyết định thay đổi phương châm tác chiến “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đến mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng” trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đều thể hiện trách nhiệm, tư tưởng nhân văn trong nghệ thuật chỉ đạo dành thắng lợi vì nước, vì dân của Đại tướng.
Là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Đại tướng gương mẫu, làm gương về phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, đoàn kết, khiêm tốn, giản dị, chí công vô tư, gần gũi, hết mực thương yêu cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đại tướng cũng thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản trung kiên, giữ vững khí tiết, tư tưởng tiến công, ý chí tự lực tự cường, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Luôn đề cao công lao, sự hy sinh to lớn của nhân dân, quân đội, những người trực tiếp chiến đấu trên chiến trường và chỉ nhận mình là “hạt nước giữa đại dương” bình đẳng với mọi người lính. Đại tướng từng nói: “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng như giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng là người lính bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính”(2).
Với người bên kia chiến tuyến, Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo toàn quân, toàn dân thực hiện nghiêm chính sách nhân đạo, khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về tù, hàng binh; qua đó, giác ngộ cho họ về cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam và bản chất phản động của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Dù là người chiến bại, nhưng từ tướng lĩnh, sĩ quan đến binh sĩ luôn dành cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sự tôn trọng, nể phục, như lời của Tướng Pháp De Castries: “Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, để được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp; tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.
Danh tiếng, uy tín, phẩm chất đạo đức, nhân cách của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, chống áp bức, bóc lột, bất công ở các nước thuộc địa Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ - La tinh; được thế giới vinh danh và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình ngưỡng mộ, cảm phục.
bạn có thể dựa vào bài của mik
hay thì cho mình xin câu trả lời hay nhất
“Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta, mà hãy hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay”.
Những câu hát đó như nhắc nhở chúng ta phải hoàn thành nghĩa vụ công dân đối với đất nước mình. Vì thế khi chiến tranh nổ ra đã có biết bao con người xông pha đi giành độc lập lại cho Tổ quốc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là đại biểu cho những con người đáng kính đó.Với tài năng quân sự kiệt xuất và những đóng góp vĩ đại cho quân sự Việt Nam, Đại tướng được báo chí thế giới ca ngợi là “vị tướng huyền thoại”, sánh cùng các vĩ nhân trong suốt 2.000 năm qua. Ông là nhân vật vĩ đại của mọi thời đại. Nhưng Bác Giáp thì cho rằng “Vị tướng dù có công lớn lao đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình”.
Thời chiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng nổi tiếng với trận đánh Đông Khê, chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn (4/1975). Và những chiến dịch đó mang lại thắng lợi cho dân tộc ta. Những trận đanh do Bác chỉ huy luôn luôn là những trận đánh mang tính táo bạo nhưng rất tỉ mỉ khiến các nước Pháp, Mỹ phải e dè khiếp sợ. Bởi Bác luôn cẩn thận thảo luận với các đồng chí, quan sát thật kĩ trận địa trước khi phát lệnh nổ súng. Tất cả những điều đó đã làm nên một ngày 7/5/1954, lá cờ quyết chiến quyết thắng của nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát, chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Và từ thời khắc đó, những cái tên Việt Nam, Hồ Chí Minh, Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp được cả thế giới nhắc đến như biểu tượng của chiến thắng và lòng dũng cảm.
Thời bình Bác Giáp là người cố vấn để cải cách các lĩnh vực, giáo dục, quốc phòng… Tất cả các đóng góp, cống hiến của Bác đều đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Nhưng ngoài ra ở Bác, vị Đại tướng kính yêu còn là những bài học quý giá cho thế hệ trẻ học tập, noi theo.
Điều đầu tiên theo tôi ở Bác mà chúng ta cần học tập chính là lòng nồng nàn yêu nước. Chỉ có lòng yêu nước, Bác mời không đứng nhìn đất nước trong kiếp nô lệ và quyết định nổi dậy đấu tranh giành lại sự tự do cho đất nước. Thế hệ trẻ chúng ta thì may mắn được sinh ra trong thời bình. Nhưng không vì thế mà chúng ta thôi yêu Tổ quốc. Ta vẫn có thể thể hiện lòng yêu nước qua việc chúng ta cố gắng học tập thật tốt để có thể dung những kiến thức ta đã học xây dựng phát triển đất nước.
Không có việc gì khó
Chí sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên
Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là biểu tượng, ý chí của những con người có quyết tâm cao. Những cuộc chiến tranh vì chính nghĩa, vì độc lập luôn đầy khó khăn. Thiếu lương thực, vũ khí quá thô sơ, cuộc sống kham khổ. Thế nhưng Bác và những người lính của mình vẫn vượt qua. Còn chúng ta thì sao? Gặp chút thử thách của cuộc đời đã buông xuôi, đầu hàng số phận. Một số bạn trẻ hiện nay thường đổ lỗi cho đổ vỡ của gia đình, thất bại trong học tập dễ ngụy biện khi sa đà vào hút chích, nghiện ngập. Các bạn có sống trong đói khổ chưa? Có sống trong những nơi rừng sâu chưa? Tất cả đều chưa. Nhưng chỉ là những khó khăn nhỏ đã oán trách cuộc đời. Nên nhớ lúc cuộc sống vây quanh ta nhiều thử thách nhất chính là lúc cuộc sống ưu ái ta nhất. Nó muốn ta hiểu được ta sẽ học được rất nhiều từ những thử thách đó.
Lý tưởng sống cao đẹp và lòng can đảm là hai điều mà thanh niên chúng ta phải học tập Bác Giáp. Bác luôn lấy hình ảnh tự do của đất nước làm mục tiêu làm động lực. Chính những lý tưởng đó đã giúp đất nước ta đại thắng và giành lại độc lập vào chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (4/1975). Song song đó, Bác cũng trang bị lòng can đảm cho mình. Vì không có lòng can đảm thì thực sự đến ngày hôm nay đất nước ta vẫn chịu kiếp nô lệ. Thanh niên ta càng cần lý tưởng sống và lòng can đảm hơn ai hết. Vì thanh niên chính là những chủ nhân tương lai của đất nước sau này. Nếu một đất nước mà những con người sống ở đó sống một cách buông thả, không có mục đích sống, sống nhút nhát, không can đảm thoát khỏi vỏ bọc của mình thì liệu đất nước đó có phát triển không? Hãy chứng tỏ thanh niên Việt Nam là những mầm non đầy nhiệt huyết , ý tưởng sống, luôn trang bị lòng can đảm. Hãy để cho các nước bạn biệt rằng Việt Nam chúng ta sau này sẽ được làm chủ bởi những con người luôn dám đương đầu với khó khăn.
Và điều cuối cùng ở Bác, vị Đại tướng tài ba đáng ngượng mộ nhất chính là sự khiêm tốn và lòng yêu thương. Bác không cho rằng mình là vị tướng huyền thoại, không cho rằng mình đánh đuổi Mỹ mà là cả nhân dân Việt Nam. Bác khiêm tốn và đê cao sức mạnh tập thể của toàn dân. Bác giúp chúng ta hiểu rằng “một cánh én nhỏ không thể làm nên mùa xuân”. Bác không tự cao, Bác cho rằng mình bình đẳng với những người khác. Sự khiêm tốn của Bác nhận được rất nhiều tình yêu thương từ nhân dân . Thanh niên như chúng ta dường như bị thời đại ngày nay cuốn hút đi quá nhanh. Việc rèn luyện tính khiêm tốn, ý thức sức mạnh tập thể và lòng yêu thương ngày càng cần thiết. Khi ngày nay giới trẻ càng ngày càng mang thêm tính tự cao, sống riêng lẻ và đặc biệt là căn bệnh vô cảm. Đất nước trong thời đại công nghiệp hóa, rô bốt được sản xuất mang những đặc tính giống con người càng nhiều nhưng con người chúng ta càng ngày càng rô bốt hóa.
Không biết yêu thương, dửng dung trước những khó khăn của người khác, chà đạp, đánh giá thấp người khác. Thử hỏi ai cũng như thế thì ai dám đầu tư vào đất nước Việt Nam nữa.Bởi không ai muốn phải làm việc với những người có tài năng nhưng quá kém nhân cách.
Thanh niên chúng ta hãy học tập Bác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vì Bác chính là hiện than của những tinh hoa dân tộc. Học tập Bác để sau này dung những phẩm chất từ bản thân đã học của Bác để phát triển đất nước. Nhưng hiện tại bây giờ đầy, Bác Giáp đã mãi mãi ra đi ở tuổi 103. Cả không khí đau thương mất mát bao trùm lên đất nước Việt Nam. Toàn dân dù biết Bác đã sống rất thọ nhưng sao vẫn nghe trong lòng đau nhói.
"Mùa thu lặng lẽ lá vàng rơi
Cả nước tiếc thương tiễn một Người".
Bác đã biết bao lần ra đi nhưng lần này là khác. Không phải ra đi xông pha chiến trận, không phải ra đi khảo sát đời sống nhân dân mà là sự ra đi về cõi vĩnh hằng. Sự ra đi mà khiến hàng chục triệu trái tim người Việt Nam thổn thức. Nhưng sự ra đi của Bác không phải là dấu chấm hết cho hình ảnh một vị tướng anh hùng. Mà đây chỉ là sự ra đi về thể xác, còn tâm hồn và trái tim của Bác mãi mãi ở lại. Bác Giáp ở lại như một sự hiện diện để xem những bàn tay tuổi trẻ đổi mới đất nước. Bác ở lại để nhân dân ta hiểu Bác vẫn luôn là người Việt Nam, không bao giờ rời xa mảnh đất thân thương này.
"Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử"
(Tố Hữu)
Dẫu biết với ngòi bút nhỏ bé của mình vẫn không thể kể hết những chiến công, những phẩm chất cao đẹp đáng để giới trẻ học tập của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhưng với tình cảm, sự kính trọng tôi vẫn viết. Và thanh niên Việt Nam ơi đừng phụ lòng mong đợi của Bác. Hãy cố gắng học tập thật tốt để tương lai có thể xây dựng và phát triển đất nước. Ở một nơi nào đó, vị Đại tướng kính yêu luôn theo dõi chúng ta.
Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam cùng với hơn 4 triệu Việt kiều. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam và là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc. Hãy yêu quý và bảo vệ ngôn ngữ của chúng ta, đồng thời học hỏi và sử dụng nó một cách hiệu quả!
Lớp 5 - Là năm cuối cấp tiểu học, áp lực thi cử nhiều và chúng ta sắp phải xa trường lớp, thầy cô, bạn bè thân quen. Đây là năm mà chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng hãy tin rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Hãy tự tin và luôn cố gắng hết mình!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK