Phân tích bài thơ Bếp lửa của Việt Bằng
Giúp em với ạ
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
Phân tích bài thơ Bếp lửa
Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả, bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt là một trong những bài thơ lắng sâu trong tâm hồn tuổi thơ mỗi chúng ta. Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng.
Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi ấu thơ sống với bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả với tình thương yêu vô bờ dành cho cháu. Đứa cháu nay trưởng thành, từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà. Cuối cùng người cháu gởi niềm thương nỗi nhớ về với bà. Vậy mạch cảm xúc của bài thơ là đi từ quá khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồi tưởng. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi nhớ, lòng kính yêu và biết ơn vô hạn của người cháu với bà mình cũng là với gia đình và quê hương đất nước.
Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa ở một làng quê Việt Nam từ thời thơ ấu:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
"Chờn vờn" là từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa của hình ảnh ký ức theo thời gian. Từ "ấp iu" là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ. Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà là sự kết hợp và biến thể của hai từ "ấp ủ" và "nâng niu". "Ấp iu" gợi đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp. Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở xa:
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
"Biết mấy nắng mưa" là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan của bà. Cả cuộc đời bà đã lo toan cho con, cho cháu, chịu biết bao vất vả, nhọc nhằn.
Khổ thơ thứ hai nói về thời thơ ấu rất xa, đó là kỉ niệm buồn khó quên:
Lên bốn tuổi , cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn, đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến bây giờ sống mũi còn cay!
Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện về qua thành ngữ "đói mòn, đói mỏi" - cái đói kéo dài làm mệt mỏi, kiệt sức (cuối năm 1944 đầu năm 1945, nạn đói kinh khủng đã xảy ra, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói). Hình ảnh con ngựa gầy rạc thì chắc người bố đánh xe cũng gầy khô... Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là mùi khói bếp: khói hun nhèm mắt cháu, khói nhiều cay khét . Đó là kỷ niệm về "mùi khói", về "khói hun", một cảnh đời nghèo khổ gắn liền với bếp lửa gia đình trước cách mạng. Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu gian khổ, rất chân thật cảm động. "Nghĩ lại đến giờ", 19 năm đã trôi qua, mà đứa cháu vẫn cảm thấy "sống mũi còn cay!" Kỷ niệm buồn, vết thương lòng, khó quên là vậy!
Đoạn thơ thứ ba gồm 11 câu, nhắc lại một vài kỷ niệm sâu sắc về bà trong suốt thời gian "Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa". Hình ảnh, chi tiết tiếp theo chợt đến trong hồi ức của nhân vật trữ tình là tiếng chim tu hú:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Chim tu hú kêu những ngày hè, tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng xa cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết, trong nỗi nhớ lại càng trở nên da diết hơn. Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê thật tha thiết. Tiếng chim tu hú trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ. Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huế thân yêu đã trở thành kỷ niệm :
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Tám năm ấy, đất nước có chiến tranh "Mẹ cùng cha bận công tác không về", cháu ở cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chăm sóc nuôi dưỡng của bà:
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Hai câu thơ 16 chữ mà chữ bà, chữ cháu đã chiếm đúng một nửa. Ngôn từ đã hội tụ tất cả tình thương của bà dành cho cháu, gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương, một tình thương ấp ủ, chở che. Hay nhất, hàm súc nhất là từ ngữ "cháu ở cùng bà", "bà bảo", "bà dạy", "bà chăm" đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ. Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà đã thay thế vai trò của người mẹ hiền.
Năm tháng đã trôi qua thế mà bà vẫn "khó nhọc", vất vả "nhóm bếp lửa". Nghĩ về ngọn lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu gọi nhắn thiết tha chim tu hú "kêu chi hoài". Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà bồi hồi tha thiết. Nhà thơ đắm chìm trong suy tưởng để trò chuyện với con chim quê hương, trách nó không đến ở với bà để bà đỡ nhớ cháu, đỡ cô đơn tuổi già. Câu thơ thật tự nhiên, cảm động, chân thành:
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm chữ "nghĩ thương bà khó nhọc" nói lên lòng biết ơn bà của đứa cháu đã và mang nặng trong trái tim mình tình thương của bà dành cho cháu.
Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng, hình ảnh bà càng hiện lên rõ nét, cụ thể với những phẩm chất cao quý: Bình tĩnh, vững lòng, đinh ninh vượt qua mọi thử thách khốc liệt của chiến tranh,làm trọn nhiệm vụ hậu phương để người đi xa công tác được yên lòng. Bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc. Sống trong những năm chiến tranh, khi "giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi" được sự "đỡ đần" của bà con hàng xóm,hai bà cháu mới dựng lại được túp lều tranh, thế nhưng bà vẫn "vững lòng" trước mọi tai họa thử thách:
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
"Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!"
Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình dung giọng nói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy sinh, kiên trì nhóm lửa, giữ lửa
Từ "bếp lửa", đứa cháu nghĩ về "ngọn lửa". Một hình tượng rất tráng lệ. "Bếp lửa bà nhen" sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương "luôn ủ sẵn", ngọn lửa của niềm tin vô cùng "dai dẳng" bền bỉ và bất diệt. Cùng với hình tượng "ngọn lửa", các từ ngữ chỉ thời gian: "rồi sớm rồi chiều", các động từ: "nhen, ủ sẵn, chứa" (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Điệp ngữ "một ngọn lửa" và kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.
Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà yêu kính, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt nam chúng ta. Cuộc đời bà nhiều "lận đận", trải qua nhiều "nắng mưa" vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình. Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu. Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Bà không chỉ là người giữ bếp giữ lửa mà còn là người nhóm bếp, nhóm lửa:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Điệp từ "nhóm" trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp. nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà. Đến câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ. Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà nhóm suốt mất chục năm trời.
Chính từ đó mà, theo mạch suy ngẫm, nhà thơ đi lên khái quát rất tự nhiên và hợp lý: "Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa". Đúng vậy, vì bếp lửa thật giản dị, bình thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kỳ diệu và thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyền lửa, người tạo nên tuổi thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.
Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp vì đã "có ngọn khói trăm tàu", đã "có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả", nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình thương yêu. Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tình thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt. Trở về thời hiện tại, nhà thơ lại muốn hỏi bà, nhắc bà việc nhóm bếp để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quên được hình ảnh bà với bếp lửa của một thời thơ ấu nghèo khổ,gian nan mà ấm áp nghĩa tình. Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm xúc của bài thơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình ảnh ấy. CHÚC BẠN HỌC TỐT !!!
Mỗi chúng ta, ai cũng có quê hương, có tuổi thơ, có một miền kí ức đong đầy kỉ niệm để nhớ về. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng, đáng quý nhất. Từng mảnh kí ức quý giá ấy là động lực, sức mạnh nâng đỡ con người ta qua những hành trình dài của cuộc đời. Nhà thơ Bằng Việt cũng vậy, trong những năm tháng học tập nơi xứ người, nhà thơ không thôi thương nhớ về quê hương nơi mình sinh ra, nhớ về căn nhà có người bà tần tảo sớm chiều. Chính nỗi nhớ quê nhà da diết ấy đã trở thành cảm hứng chủ đạo để nhà thơ sáng tác ra bài thơ Bếp lửa. Qua dòng hồi tưởng về quá khứ của người cháu, hình ảnh bếp lửa hiện lên với đầy những cảm xúc, với tình thương nỗi nhớ. Bài thơ gợi lại những kỉ niệm xúc động của tình bà cháu, thể hiện tình cảm kính yêu và lòng biết ơn vô hạn của cháu đối với bà, cũng như đối với quê hương, đất nước.
Bài thơ Bếp lửa được nhà thơ Bằng Việt sáng tác khi ông chỉ bước qua tuổi đôi mươi, trong quá trình du học ở Liên Xô. Mùa đông lạnh giá ở Liên Xô đã khơi dậy nỗi nhớ quê hương tha thiêt, cháy bỏng của nhà thơ, đặc biệt là nỗi nhớ thương người bà bên chiếc bếp lửa đầy những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ, khó phai.
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”
Bài thơ mở ra bằng một khung cảnh đơn sơ, thân thuộc. Chiếc bếp lửa bập bùng hiện ra trong sương sớm như một đốm sáng lóe lên trong màn sương mai dày đặc. Bếp lửa chính là hình ảnh biểu tượng cho cả bài thơ, là phương tiện khơi gợi mạch cảm xúc da diết, khơi dậy dòng hoài niệm về tuổi thơ bên bà của tác giả trải dài dọc theo từng câu chữ trong bài. Chiếc bếp lửa được nhà thơ miêu tả bằng cụm từ “ấp iu nồng đượm”. Ý chỉ sự dịu dàng, nâng niu, lòng kiên trì và tấm lòng yêu thương mà người bà bỏ ra để giữ chiếc bếp lửa luôn cháy sáng, sưởi ấm cho căn nhà vốn đã thiếu vắng bóng người luôn được ấm áp. Chính tình yêu vô bờ bến mà bà dành cho cháu đã làm bùng lên trong lòng tác giả là những nhớ thương, những cảm xúc yêu kính sâu đậm với bà.
“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Hình ảnh người bà lam lũ, thức khuya dậy sớm, lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ đã được tác giả khắc họa rõ nét trong câu thơ trên. Một người bà lam lũ sớm chiều mỗi sớm mai lại nhóm bếp, từ ngày này qua tháng khác, năm này sang năm nọ, suốt cuộc đời mình. Đồng thời, câu thơ cũng nói lên tình cảm yêu thương sâu sắc, nồng nàn mà tác giả dành cho người bà hết mực yêu thương mình. Có thể khẳng định rằng, trong khoảng thời gian sống xa bố mẹ, tác giả chưa từng cảm thấy cô đơn hay thiếu thốn tình cảm, đơn giản vì ông đã có bà. Bà dành cho ông tất cả những gì tốt đẹp nhất, người bà với tình yêu thương vô tận dành cho đứa cháu nhỏ. Câu thơ này chính là nền tảng cho niềm thương nhớ quê hương tha thiết, nỗi nhớ gia đình, nhớ bà, nhớ chiếc bếp lửa thân quen vẫn luôn cháy bỏng trong lòng tác giả, để rồi sau này khi đi xa nhà, những kỉ niệm thời thơ ấu đã ghi lòng tạc dạ cứ liên tục ùa về trong tâm trí nhà thơ.
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Trong suốt những ngày thơ ấu, nhà thơ sống bên bà và chiếc bếp lửa thân thuộc. Hình ảnh bà nhóm bếp hằng ngày, hình ảnh khói mù mịt tỏa ra từ bếp lửa đã trở nên thân quen đến mức nhà thơ phải nhấn mạnh: “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”. Năm tác giả lên bốn cũng là chính là năm 1945, cái năm mà nạn đói khủng khiếp hoành hành, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người dân Việt Nam ta. “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi”, hình ảnh người bố đánh xe ngựa cơ cực… Đây là những hình ảnh, chi tiết tả thực kể về quá khứ đau thương, khó khăn, vất vả của tác giả. Những cụm từ “đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy” đã phần nào làm tăng thêm sự tàn khốc của cảnh đói khổ, giúp người đọc có cái nhìn rõ nét về sự khổ cực, khốn khó của con người trong tình cảnh thiếu thốn lương thực. Trong hoàn cảnh ấy, duy chỉ có người bà là vẫn kiên cường, cố gắng chắt chiu, dành dụm cho cháu từng miếng ăn để vượt qua cơn đói. Người bà được khắc họa với tấm lòng bao dung, đôn hậu, yêu thương gia đình, luôn chăm lo cho cháu một cách đầy đủ, trọn vẹn. Nỗi ám ảnh đói khát ấy sau bao nhiêu năm vẫn in sâu trong tiềm thức tác giả, để sống mũi ông lại cay khi nhớ về cái đói ghê rợn ấy. Hình ảnh người cháu bị khói hun nhèm mắt, sống mũi còn cay là một chi tiết ẩn dụ sáng tạo, được tác giả cài cắm một cách khéo léo. Người cháu cay mắt không chỉ vì khói từ bếp lửa, mà sự cay mắt còn đại diện cho nỗi xúc động, niềm cảm thương cho số phận, cho những nhọc nhằn mà hai bà cháu đã phải trải qua trong cái năm định mệnh ấy. Mùi khói đã đi theo đứa trẻ cho đến khi nó trưởng thành, như một tác nhân gợi cho nhà thơ nhớ về tuổi thơ khốn khó bên bà. Tác giả đã rơi những giọt nước mắt như sự tri ân, lòng biết ơn chân thành đối với bà mình.
Người bà không chỉ là người đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng nhà thơ một cách trọn vẹn, luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho đứa cháu nhỏ mà bà cũng là chỗ dựa tinh thần vững chắc, là người bầu bạn, người tâm sự với nhà thơ trong suốt những năm tháng thời thơ ấu tuy cơ cực những vẫn luôn ấm áp và hạnh phúc.
“Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Những câu chữ tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng lại gợi tả rõ nét sự tận tụy, những tâm huyết mà người bà bỏ ra để giáo dục người cháu. Trong những năm tháng ở bên bà và chiếc bếp lửa, nhà thơ được bà chăm sóc, giáo dục hết sức đầy đủ. Hình ảnh bà thủ thỉ kể chuyện cho cháu nghe, người bà như một người cha, người mẹ lo lắng, chăm bẫm cho con mình, cũng như một người thầy dạy bảo học trò, bà cũng là cả một bầu trời yêu thương của tác giả. Có thể nói, người bà là kết tinh cao đẹp giữa công cha-nghĩa mẹ-ơn thầy. Cầu nối giữa bà và cháu hiện lên khăng khít, gắn bó thể hiện một tình yêu thương mà hai bà cháu dành cho nhau. Hình ảnh "bà dạy cháu làm", bà chăm cháu học" bà dạy cháu cách làm người, dạy cháu tự lập cho cuộc sống của mình, bà dạy cháu yêu thương gia đình, mọi người xung quanh. Bà ân cần dạy dỗ, chỉ bảo người cháu với ước mong đứa cháu bé bỏng của mình sẽ trở nên trưởng thành, trở thành một người tốt trong tương lai. Bà đã thay phần của bố mẹ, chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục nhà thơ. Câu thơ “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”, thể hiện rất rõ sự trưởng thành trong tâm hồn thơ dại của cậu bé. Nhà thơ nhớ như in hình bóng bà bên chiếc bếp lửa, nhớ những điều hay lẽ phải, những kĩ năng sống quý giá mà bà truyền lại. Tác giả cảm thương sâu sắc cho cuộc sống cực nhọc, khó khăn của người bà. Nhà thơ nhắc lại cho bà về con tu hú, hình ảnh con chim tu hú như một nhân chứng cho những thăng trầm mà hai bà cháu đã cùng nhau trải qua trong những năm tháng khó quên ấy. Nhà thơ trách yêu con tu hú: “sao không đến ở cùng bà” như tự nhắc nhở bản thân phải luôn ghi nhớ công ơn dưỡng dục của bà suốt nhiều năm ròng rã, ông tự trách bản thân đã ở quá xa quê hương, để bà cô đơn một mình. Thể hiện khao khát cháy bỏng sớm được trở về bên bà, bên bếp lửa, một lần nữa đỡ đần bà công việc, bầu bạn cùng bà như thuở bé thơ.
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Qua những khổ thơ với nhiều hình ảnh sống động và cụ thể, tác giả đã khéo léo làm nổi bật lên hình ảnh người bà tận tụy, tần tảo sớm hôm chăm lo cho gia đình, cho con cháu. Quy tụ ở con người bà là tất cả những đức tính quý giá, tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bà là người kiên cường, bất khuất, điều này thể hiện rõ qua chi tiết dặn cháu “mày có viết thư chớ kể này kể nọ…”, tinh thần bà vẫn vững vàng, bình tĩnh trong tình huống nguy cấp, bà còn hiện lên là người yêu thương gia đình, con cái vô bờ bến khi sợ việc ở nhà sẽ ảnh hưởng tới các con. Dẫu trong hoàn cảnh nào thì bà vẫn luôn anh dũng, là chỗ dựa vững vàng cho con cháu. Cũng từ đây, bài thơ Bếp lửa không chỉ đơn thuần khắc họa tình bà cháu, tình cảm gia đình thiêng liêng, thăm thẳm mà còn nêu lên tình người, tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Chiến tranh đã gây bao mất mát, đau thương nhưng sau tất cả, hàng xóm bốn bên khi trở về vẫn giúp đỡ nhau vượt qua gian nan, khốn khó.
Người bà trong bài thơ không chỉ là người giữ lửa, người nhen nhóm những hi vọng, những niềm tin bất diệt về một tương lai tươi sáng mà còn là người truyền lửa. Bà truyền lại những nhiệt huyết, những khao khát bỏng cháy của cuộc đời mình đến thế hệ con cháu sau này. Bà mong ước rằng một ngày nào đó, thế hệ trẻ sau này sẽ trở thành những công dân tốt, những người có ích trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước:
“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”
Nhà thơ đã thay đổi cụm từ “bếp lửa” thành “ngọn lửa”, chuyển từ hình ảnh thực tế, trực quan đến hình ảnh trừu tượng. Một ngọn lửa của tình yêu thương, của khát vọng sống mãnh liệt. Một ngọn lửa luôn rực cháy như ngọn lửa của cách mạng, ngọn lửa bất diệt với niềm tin dai dẳng trong lòng bà về tương lai đất nước. Điệp từ “một ngọn lửa” làm giọng thơ trở nên dồn dập, nhịp thơ mạnh mẽ, đủ sức nhóm lên trong lòng người đọc một ngọn lửa lung linh ấm áp. Sau tất cả, chiếc bếp lửa của người bà vẫn là hình ảnh mấu chốt, mang tính biểu tượng sâu sắc. Chiếc bếp lửa không chỉ được bà nhóm lên để sưởi ấm, để nấu ăn mà còn để “nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy những tâm tình tuổi nhỏ”. Hình ảnh bếp lửa vừa là hình ảnh tả thực, vừa là hình ảnh biểu tượng, nó là tất cả những kỉ niệm thời thơ ấu, là bầu trời yêu thương bao la rộng lớn của bà dành cho cháu cho gia đình. Chiếc bếp lửa trông rất bình thường, là một vật rất đỗi quen thuộc lại được tác giả cảm thán sâu sắc: “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng-bếp lửa”, đủ khiến chúng ta hiểu được tính đặc biệt của vật dụng này đối với bản thân nhà thơ. Chiếc bếp chính là sợi dây liên kết cảm xúc da diết, chạy dọc theo bài thơ. Mỗi khi tác giả nhớ về bà, cũng có nghĩa là nhớ về chiếc bếp lửa với bao nhiêu tình yêu thương, kí ức khó phai của hai bà cháu. Để rồi khi đã đi xa, “có lửa trăm nhà”, “có khói trăm tàu” nhưng chẳng đâu bằng gia đình, nơi có bà và chiếc bếp lửa thân yêu. Mỗi sáng tinh mơ nhà thơ lại tự hỏi: “Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?”. Một câu hỏi như để hỏi rằng liệu bà có còn muốn nhóm lên ngọn lửa của niềm tin, của tình yêu thương gia đình, và câu trả lời sẽ luôn là “có”. Câu thơ cuối là một khẳng định chắc nịch cho niềm tin, cho tình yêu thương tha thiết, bỏng cháy mà người cháu dành cho người bà đáng kính của mình.
Không tự nhiên mà bài thơ Bếp lửa lại có thể để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc, khó phai về tình bà cháu, tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu nặng. Nhà thơ Bằng Việt đã rất xuất sắc khi sáng tác ra một tác phẩm để đời, một tác phẩm với đầy đủ những cung bậc cảm xúc. Chắc hẳn, ai trong chúng ta khi đọc qua tác phẩm đều có những cảm xúc bồi hồi, xao xuyến nhớ về gia đình. Ngọn lửa trong bài thơ chưa bao giờ tắt dù trải qua phong ba bão tố, nó chỉ càng bùng lên mạnh mẽ hơn như tình yêu to lớn của hai bà cháu. Vì vậy, đừng sợ cơn gió to sẽ đến làm vụt tắt ngọn lửa với tình yêu gia đình đang cháy trong tim mỗi chúng ta. Hãy nhớ nếu ngọn lửa cháy đủ lớn, đủ mãnh liệt thì không gì có thể làm nó vụt tắt. Hãy luôn hướng về gia đình với cả trái tim ta, vì gia đình luôn là nơi bình yên nhất chờ ta trở về.
Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!
Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK