Trang chủ Ngữ văn Lớp 9 nghị luận văn học nêu cảm nhận của em về...

nghị luận văn học nêu cảm nhận của em về nv Ông Hai câu hỏi 6845211

Câu hỏi :

nghị luận văn học nêu cảm nhận của em về nv Ông Hai

Lời giải 1 :

Truyện ngắn “Làng” là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Kim Lân viết về người nông dân trong kháng chiến. Có thể nói, nhân vật chính của tác phẩm - ông Hai là điển hình cho người nông dân Việt Nam những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng. Ở nhân vật, người ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự chất phác, mộc mạc đặc biệt là tình yêu làng, yêu nước sâu sắc. 

Ông Hai là một người nông dân nghèo khổ, chất phác. Như bao số phận người nông dân trong kháng chiến thì cuộc đời của ông cũng trải qua những sóng gió, những đau khổ và tuyệt vọng. Sống trong hoàn cảnh ấy càng thôi thúc tình yêu làng, yêu nước của ông. Tình yêu làng sâu sắc của ông được thể hiện trong nét đẹp tâm hồn trong chính con người, chính cá tính của ông. Vì sóng gió vì chiến tranh nên ông phải lang thang phiêu bạt, rời xa làng, xa ngôi nhà của mình. Nhưng dù cho cuộc sống đầy những tăm tối, khổ cực thì ông vẫn yêu làng, dù rở xa làng quê nhưng ông vẫn luôn nhớ, luôn dõi theo làng của ông.

Trước hết, tình làng của ông Hai được thể hiện qua tính hay khoe. Không như người ta khoe của, khoe sự giàu có, cái ông Hai khoe chính là về làng của ông. Ông lão khoe làng với tất cả niềm hãnh diện: "Ông nói về cái làng 3ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai mắt ông sáng hẳn lên, khuôn mặt biến chuyển hoạt động”. Trước Cách mạng, ông Hai hay khoe làng ông có “cái sinh phần của viên tổng đốc” có bề dày truyền thống, có cảnh đẹp nổi tiếng cả vùng. Tất cả những gì thuộc về làng đối với ông Hai đều thiêng liêng gắn bó. Do đó, mặc dù cái sinh phần đã gieo rắc cho ông, cho bao người khác tai hoạ song ông vẫn cảm thấy tự hào. Dường như trong tâm trí ông Hai, cái sinh phần đó là sức lực của cả làng và có một chút rất riêng của bản thân ông. Tình yêu làng của ông Hai thật giản dị, chất phác. Sau Cách mạng, ông vẫn khoe làng mình nhưng ông khoe làng mình có cái “nhà thông tin rộng rãi”, “có chòi phát thanh”, khoe làng mình giàu có, trù phú... Ông không khoe cái sinh phần của tổng viên đốc làng ông.

Thượng nữa, bởi bây giờ ông đã hiểu được nhiều điều. Ông đã được tiếp xúc với cách mạng, với đấu tranh, vẫn khoe làng, vẫn là tình yêu làng của con người chất phác, hiền lành, song trong tình yêu làng có một tỉnh cảm khác đang trỗi dậy, lớn mạnh hơn, cao cả hơn, thiêng liêng hơn.

Tình yêu làng thể hiện qua nỗi nhớ sâu sắc gần như trở thành ám ảnh ở ông Hai khi phải đi tản cư, xa quê. Ông đã tự nhủ với bản thân rằng đi tản cư cũng là kháng chiến. Ở nơi tản cư, tối này đến tối khác, ông nói đi nói lại về cái làng của mình. Kim Lân điểm nhịp câu chuyện bằng những lời trách móc ông hàng xóm những ý không nghe chuyện, nhưng kỳ thực là để cho ta thấy rằng ông Hai không thực sự cần bác Thứ nghe, ông nói cho chỉnh mình, nói để cho sướng miệng và cũng để thỏa nỗi nhớ làng. “Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm việc với anh em. [...] Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hảo, khuân đá.” Những ký ức về làng xưa, xóm cũ trở thành niềm an ủi, động viên ông Hai mỗi khi chán nản. Chỉ cần được ở lại làng, cùng chiến đấu với anh em thì như có một luồng sinh lực mới chảy dồi dào trong ông, và dù có gian khổ, khó nhọc, nguy hiểm đến bao nhiêu ông cũng chịu được. Hình ảnh đó hoàn toàn trái ngược với ông Hai lúc nào cũng buồn chán, bức bối, không biết làm gì trong căn bếp tản cư. Thế nhưng đó cũng chỉ là hồi ức, một hồi ức tươi vui và đầy tự hào đến nỗi mỗi khi nhớ lại, trong ông lại trào dâng một nỗi nhớ khôn nguôi: “Ông Hai nhớ cái làng, nhớ cái làng quá”. Với ông, ngôi làng vốn đã là một điều gì đó vô cùng thiêng liêng và đẹp đẽ. Nay ở trong căn bếp tân cư chật hẹp, cái làng ấy lại càng đẹp hơn, trở thành một niềm mong ước, khao khát mãnh liệt. Điều đó hoàn toàn không phải phóng đại. Tâm sự của ông Hai là tâm sự của một người gắn bó với làng tha thiết, yêu làng bằng một niềm tự hào chân chính. Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai đặc biệt thể hiện rõ rệt khi ông nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Kim Lân đã rất thành công khi miêu tả nỗi đau đớn tột cùng của ông Hai khi nghe được cái tin sét đánh: “Cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng chừng như không thở được”; “nước mắt ông cứ giàn ra”... Giá ông không quá yêu làng, không quá tự hào về làng thì có lẽ ông đã không đau khổ, tủi nhục đến vậy. Lời của người đàn bà tản cư - “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây” như nhát dao găm vào trái tim ông, vào niềm tự hào về cái làng mà ông yêu vô cùng. Tất cả những gì ông trân trọng giữ gìn trong tim giờ đây như đều sụp đổ tan tành. Ông không chấp nhận được sự thật ấy và đấu tranh nội tâm dữ dội. Lúc đầu là nghi ngại (“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được?"), nhưng sau đó là đau đớn khi được biết những bằng chứng rõ ràng (“Mà thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi”). Phải thừa nhận cái tin đó, không thể nào tả được nỗi đau của ông lúc ấy. “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!” Có lẽ trong đời mình, ông Hai chưa từng chịu đựng hay thậm chí tưởng tượng được một nỗi đau, nỗi nhục như thế. Những tiếng ấy như thốt lên từ trái tim bị tổn thương, từ niềm tự hào bị chà đạp của ông, khiến người đọc cũng như cảm nhận được nỗi xót xa, tủi nhục của ông lúc ấy. Mà ông Hai đâu chỉ đau cho mình, đau cho làng, mà ông còn đau cho những người đồng hương, đồng cảnh ngộ. “Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?" Nếu lúc trước ông tự hào, ông thao thao bất tuyệt về làng mình bao nhiêu thì bây giờ ông xấu hổ, trốn tránh bắt nhiêu. Cái tin đồn quái ác kia trở thành một nỗi ám ảnh, một nỗi sợ vô hình luôn đè nặng lên tâm trí ông. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông... là ông lùi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!". Lẽ thường tỉnh, khi người ta suy nghĩ quá nhiều về một điều gì đó, lúc nào ta cũng có cảm tưởng những người khác cũng như vậy. Thế thì nỗi ám ảnh và lo sợ của ông Hai phải lớn đến chừng nào để ông bị dằn vặt tới vậy! Lòng yêu làng của ông phải lớn biết chừng nào! Kim Lân đã diễn tả rất cụ thể và sâu sắc tâm trạng nặng nề ấy, vì bản thân tác giả cũng từng gặp hoàn cảnh tương tự. Ông Hai đã trải qua những giờ phút không thể đau đớn và tủi hổ hơn khi bị mụ chủ nhà nói móc nói máy để đuổi khéo. Người đọc như cảm nhận được từng lời, từng chữ của mụ như xoáy sâu vào tình yêu làng vốn đã quá tổn thương của ông. Dù đã dứt khoát đi theo kháng chiến, ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm sâu đậm với làng quê , và vì thế mà ông càng đau xót, tủi hổ hơn.

Bên cạnh tỉnh yêu làng, ở nhân vật ông Hai có là lòng yêu nước và tỉnh thần kháng chiến. Ông luôn theo sá tin tức kháng chiến và tự hào về những chiến công mà nhân dân ta đã lập nên. “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên vui quá!" Nhưng đến khi phải lựa chọn giữa làng và nước, tỉnh yêu ấy mới bộc lộ rõ rệt. Dù bị tin đồn làng mình theo Tây dồn vào “tuyệt đường sinh sống", ông vẫn nhất quyết không trở về làng. Đến đây, ta mới hiểu rõ về coi người hay chuyện tưởng chừng rất đơn giản, bộc trực kia. Tình yêu làng giờ đây đã trở thành tình yêu có ý thức hòa nhập và lòng yêu nước. “Về làm gì cái làng ấy nữa. Về làng là bỏ kháng chiến, bó Cụ Hồ". Nhớ lại những tháng ngày đen tối bị đàn áp xưa kia, ông đã có quyết định rõ ràng, đúng đắn. Là người nông dân chân lắm tay bản nhưng ông Hai có nhân thức cách mạng rõ ràng: "Lăng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thủ" Nhận thức rất mới này là một nét đặc biệt trong tính cách của ông Hai, đánh dấu sự thay đổi của người nông dâi sau Cách mạng tháng Tám. Ông luôn muốn được giãi bày nỗi lòng ấy của mình. Tuy nói chuyện với đứa con nhưng thực chất ông đang mượn lời đứa trẻ để bày tỏ tâm sự. Những gì đứa trẻ nói chính là những gì đang đăng trào trong lòng ông mà không nói ra được. "Ử đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.” Ông Hai nói với đứa con nhi thể nói với anh em đồng chí, để minh oan cho tấm lòng thành thật của mình, để nỗi khổ tâm trong lòng như vớ đi được đôi phần. Lòng yêu nước của ông thật giản dị nhưng vô cùng chân thành, sâu sắc và cảm động. Chính điều ấy đã giúp ông chịu đựng được tin đồn quái ác về làng mình, vì ông có niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến. Từ đây, ông Hai nói riêng hay người nông dân nói chung, đã nhìn rộng hơn, xa hơn lũy tre làng. Không chỉ yêu làng, trong ông còn có một tình yêu lớn gấp nhiều lần - lòng yêu nước.

Khi tin đồn thất thiệt về làng chợ Dầu theo Tây được cải chính thì người vui mừng, sung sướng nhất chính là ông Hai. Ông như được hồi sinh sau cái tin ấy: “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên" Một lần nữa, tình yêu làng, yêu nước của ông được thể hiện một cách chân thực, cảm động. Nguồn sinh lực ngày nào lại trở về trong ông. Ông Hai lại là ông Hai xưa. Ông lại nói về làng mình, về việc “Tây nó đốt nhà tôi rồi đốt nhẫn!" Niềm vui sướng của ông được thể hiện thật hồn nhiên, chân thật và rất mãnh liệt. Có lẽ không ai trên đời lại đi khoe, đi mừng việc nhà mình bị đốt như thế. Nhưng, với ông Hai, điều đó đâu có là gì so với niềm vu khi thanh danh của làng được rửa. Vì sự mất mát ấy cũng là sự hồi sinh của một làng Chợ Dầu mà ông hẳng yêu và xứng đáng với tỉnh yêu ấy: làng Chợ Dầu kháng chiến. Tình yêu làng là cơ sở, là biểu hiện hùng hồn nhất của tỉnh yêu nước trong ông Hai.

Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai, đặc biệt qua tỉnh huống truyện có tính căng thẳng để thử thách nhân vật. Qua tình huống, chiều sâu của nhân vật với những nét tính cách, những chuyển biển trong nhận thức và tỉnh cảm của ông, và hơn hết là tình yêu làng, yêu nước tha thiết được bộc lộ rõ nét. Nhà văt cũng vô cùng thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, khi thì miêu tả cử chỉ hành động, khi thì độ thoại nội tâm, độc thoại, đối thoại để lột tả tính cách nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện rất linh hoạt, tự nhiên, lú dềnh dàng, lúc đột ngột tùy theo diễn biến. Bên cạnh đó, tác giả vốn am hiểu cuộc sống nông thôn nên ngôn ngi của ông Hai là khẩu ngữ, rất bình dị và gần gũi, đậm chất nông dân. Với nhân vật ông Hai, Kim Lân quả thực rất xứng đáng là một cây bút "quý hồ tỉnh, bắt quý hồ đa".

Nguyễn Đình Thi từng viết rằng: "Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thự tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh." Truyện ngắn “Làng” đã được viết nên từ những điều nhà văn từng trải nghiệm, khắc họa một cách chân thực nhất những tháng ngày đi tản cư của nhân dân miền Bắc trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như những chuyến biến trong nhận thức và tình cảm của họ. Thông qua nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm li ngôn ngữ nhân vật, Kim Lân đã mang đến cho bạn đọc hình tượng nhân vật ông Hai với tình yêu làng quê vì lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha.

Bạn có biết?

Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!

Nguồn :

TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự lớp 9

Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!

Nguồn :

sưu tập

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK