Phân tích bài thơ Sang thu - Hữu Thỉnh
k chép mạng
Bên cạnh hình ảnh mùa xuân tươi đẹp đã không ít lần đi vào thi ca, mùa thu với gió heo may, lá vàng rơi lay lắt cũng là nguồn cảm hứng bất tận, hấp dẫn người thi sĩ viết nên những áng thơ tuyệt đẹp. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có riêng cho mình một tác phẩm viết về mùa thu, một mùa thu của những người đã vượt qua bão tố của chiến tranh. Ông quê gốc ở Vĩnh Phúc, tham gia cách mạng với vai trò cán bộ văn hóa, tuyên huấn và bắt đầu sáng tác thơ từ ấy. Chỉ vọn vẹn 12 câu, 60 chữ cùng nhịp thơ chậm rãi, ngôn ngữ hàm súc, giàu sức gợi hình, gợi cảm, bài thơ “Sang thu” của tác giả Hữu Thỉnh đã khắc họa rõ nét khoảnh khắc giao mùa cuối hạ-đầu thu, gây nên những dư âm dai dẳng trong lòng người đọc.
Khác với “Đây mùa thu tới” của nhà thơ Xuân Diệu, miêu tả mùa thu ảm đạm và trầm mặc, là kết tinh của tâm hồn đương thời mộng mơ của tác giả, với những hình ảnh hoa mỹ và diễm lệ nhất còn tồn tại trong tâm trí người thi sĩ thì hình ảnh mùa thu trong “Sang thu” của Hữu Thỉnh không hiện lên nổi bật, rõ ràng, không tồn tại dài lâu mà chỉ là giây phút giao mùa ngắn ngủi, khoảnh khắc hãn hữu mà cả thiên nhiên, đất nước, con người bước chân sang một mùa thu mới. Mùa thu với Hữu Thỉnh là những gì mộc mạc, giản dị nhất:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
Mùa hè chưa đi qua hết, chỉ mới chớm thu, thời khắc mà thiên nhiên bắt đầu vận động, có những bước chuyển mình đầu tiên, thể hiện qua những tín hiệu mong manh nhất. Trước những biến động đầy tinh vi ấy, nhà thơ hẳn phải là người yêu thiên nhiên lắm, quan sát kĩ càng lắm, phải có một tâm hồn nhạy cảm lắm mới có thể cảm nhận được. Một trong những yếu tố đầu tiên nhất mà tác giả cảm nhận được chính là hương ổi thoang thoảng trong không gian. Thứ mùi hương dịu nhẹ, dễ chịu lan tỏa trong gió, một mùi hương bình dị, gắn liền với làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Nhà thơ đã bước đến ngưỡng cửa mùa thu qua mùi hương ấy-một mùi hương đồng quê dân dã chứ không phải hương cốm nồng nàn, mùi hoa sữa ngào ngạt ở khắp các góc phố Hà thành, hay như nhà thơ Nguyễn Khuyến nhìn thấy mùa thu qua cái “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Tác giả Hữu Thỉnh lựa chọn hương ổi chín, một hương vị hiện lên thật gần gũi, thân thuộc, là cả một bầu trời tuổi thơ của tác giả. Ông gửi vào đó những suy tư của bản thân, sự bình yên của mùa thu mà ông hằng mong đợi cuối cùng cuối đã tới, cùng hương ổi thơm lừng. Từ “bỗng” không chỉ thể hiện sự ngạc nhiên của tác giả mà còn thể hiện sự đột ngột, bất ngờ trong bước thay đổi của thiên nhiên. Thu gần đến, kéo theo những làn gió hanh khô, se lạnh. Cấu trúc đảo ngữ với động từ mạnh “phả”. Có thể thấy, mùi hương ổi ngào ngạt, ngập tràn trong không gian làng quê bao la, rộng lớn chứ không hòa quyện, chìm trong gió lạnh. Từng luồng hương thơm như xộc vào miền thơ ấu, thân thiết trong con người, hương thơm đầy hoài niệm mà chính tác giả cảm nhận: “Nó giống như mùi bờ bãi, mùi con trẻ…”, kết hợp với gió se khiến không khí như sánh lại, đặc quánh. Phần vì hương ổi thơm ngát. Phần vì gió thu khô và se lạnh. Bằng những hình ảnh giàu sức gợi, nhà thơ đã đem đến cho người đọc sự liên tưởng thú vị, rõ rệt. Tác giả như nhìn thấy mùi hương vô hình, cảm nhận được những nhân tố mơ hồ quyện vào không khí. Đó là sự cảm nhận tinh tế của người con làng quê dân dã. Ông đã phát hiện một nét đẹp đáng yêu của mùa thu quê hương, mộc mạc mà thấm nhuần thi vị. Cứ mỗi lần thu đến, hương ổi thanh mát, dịu nhẹ đã đi sâu vào tiềm thức nhà thơ lại hiện về. Như một tác nhân gợi nhớ, nó hiện lên như một nguồn cảm hứng da diết nảy nở từ tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của một hồn thơ xứ sở.
“Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
Cảm quan của nhà thơ với không gian làng quê như được mở rộng, gợi ra trước mắt chúng ta màn sương dày đặc, lờ lững trôi trước con ngõ. “Chùng chình” ở đây vừa là động từ, cũng vừa là tính từ, thể hiện một cái nhìn đầy chất trữ tình của người thi nhân tài hoa với hiện tượng thiên nhiên rất đỗi quen thuộc. Từng hạt sương nhỏ thong dong qua ngõ, giăng kín lối đi, làm khí thu mát mẻ, không gian như huyền ảo, bình yên. Sương mai chùng chình như luyến tiếc một cái gì đó, nửa muốn sang thu, nửa muốn trở lại mùa hạ đầy nắng. Hình ảnh con ngõ không chỉ là hình ảnh tả thực mà còn chính là hình ảnh biểu tượng với ý nghĩa thâm thúy: đây chính là cửa ngõ thời gian, khoảnh khắc mà thiên nhiên vận động, đất trời sang thu. Bức tranh không gian hiện ra, điểm xuyết bởi sự chuyển động của thời gian sâu bên trong ấy. Tác giả đã mở rộng tất cả những giác quan: khứu giác, thị giác, xúc giác, để cảm nhận những nét đặc trưng của mùa thu hiện diện. Nó vô hình nhưng lại như hữu hình, tuy mong manh những lại rõ nét. Và rồi bất chợt nhà thơ thốt lên: “Hình như thu đã về”. Tình thái từ “hình như” bắt đầu câu thơ, nói lên tâm trạng nửa tin, nửa ngờ trước những tín hiệu sao mà mong manh ấy. Một chút dè dặt, một chút nghi hoặc, bâng khuâng khó tả: trạng trái cảm xúc đậm chất thơ trong cái thời khắc giao mùa vốn đã không kém phần thơ mộng. Thu đến sao mà nhẹ nhàng quá, mơ hồ quá. Từ những cảm nhận tinh tế của người thi sĩ, ông như gói gọn không gian làng quê mùa thu vào trong từng con chữ, nhịp thơ. Với những ai không như tác giả, không làm thơ, không có tâm hồn mơ mộng thì khoảnh khắc giao mùa mỏng manh này từ lâu đã chìm vào quên lãng. Bức tranh làng quê hiện lên rất đỗi tự nhiên, nên thơ. Đằng sau ấy là một tâm hồn thi ca nhạy cảm, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống. Khổ thơ với vỏn vẹn bốn dòng đã khái quát cho ta thấy những tín hiệu đầu tiên của mùa thu đến, khắc họa tâm hồn người thi sĩ tuy sắp bước qua tuổi tứ tuần vẫn rất trẻ, mà hơn hết là trẻ lòng. Nhà thơ-một người lính, khát khao một khoảnh khắc hòa bình, với mùa thu êm đẹp, được chứng kiến những hình ảnh này quả là không có gì sánh bằng. Từ sau giây phút ngỡ ngàng, đầy ngờ vực ấy, nhà thơ khe khẽ vui mừng, mở rộng tầm nhìn ra xa hơn, rộng hơn nữa, tiếp tục lan tỏa cảm xúc của bản thân mình đến từng ngõ ngách trong không gian, rồi càng chắc chắn hơn:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
Bức tranh mùa thu giản dị giờ đây được thêm thắt vào những chi tiết, những thay đổi rõ rệt của đất trời: dòng sông, đàn chim, đám mây. Dòng sông mùa thu như được kéo dài ra, mênh mông nhưng chậm rãi. Khác với dòng sông mùa hạ cuồn cuộn nước chảy thì dòng sông mùa thu lại có phần nhẹ nhàng, thong thả hơn. Từ láy “dềnh dàng” được tác giả sử dụng đầy tinh tế, gợi ra nét êm dịu, hiền hòa của trời thu. Dòng sông thu trong veo như cố tình đi chậm lại, để tận hưởng giây phút giao mùa ngắn ngủi, để có thêm thời gian cảm nhận sức sống của Tổ quốc, của một mùa thu hòa bình. Trên trời, từng đàn chim bắt đầu di cư tránh rét, vội vã và gấp gáp. Phép đối “dềnh dàng-vội vã”, phép nhân hóa và những từ láy được nhà thơ sử dụng rất khéo léo, có chủ ý rõ ràng, làm tăng sức gợi của hình ảnh lên gấp nhiều lần. Hình ảnh “đám mây mùa hạ” hiện lên rõ ràng, như đông tụ lại, có hồn. Một đám mây bồng bềnh, mà tác giả cho là “vắt nửa mình sang thu”. Động từ “vắt” đã tăng giá trị gợi hình của câu thơ lên một tầm cao mới. Đám mây lững lờ, hữu hình lại nằm vắt ngang trên ranh giới vô hình của hai mùa thu-hạ hay chính là thời khắc chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình của đất nước. Nó như là nhịp cầu nối hai không gian cuối hạ-đầu thu với nhau trên bầu trời xanh, cao và rộng. Đám mây là hình ảnh hiện thực, ranh giới giữa hai mùa là hình ảnh biểu tượng, chính động từ “vắt” đã biến cái mơ hồ, huyền ảo thành cái thực tế, hiện hữu trong không gian. Không như những hình ảnh “tầng mây lơ lửng” giữa bầu trời xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến, ngợi ca vẻ đẹp của mùa thu; hay trong khung cảnh ảm đạm “mây vẩn từng không” của nhà thơ Xuân Diệu, viết trong “Đây mùa thu tới”, đám mây mùa thu bồng bềnh, mong manh, thấm đẫm thi vị trữ tình của Hữu Thỉnh lại giàu sức gợi tả, là hình ảnh biểu tượng rất đỗi thâm thúy, nó chỉ vắt nửa mình sang thu thôi, nửa còn lại đã đi vào kí ức. Đám mây mùa thu ấy còn mang trong mình ý nghĩa thế sự, nó nối hai đầu hạ-thu, như bắc một nhịp cầu trong khoảnh khắc giao mùa của mỗi người. Thời khắc giao mùa được sáng tạo từ một hồn thơ xứ sở đầy tinh tế, độc đáo, làm ta bâng khuâng trước vẻ êm dịu của mùa thu thiên nhiên. Không gian làng quê như được mở rộng ra, nhiều tầng bậc hơn, thấp thoáng cảm xúc con người. Trong cái cảnh êm đềm lại như có sự xáo động, vừa gần gũi lại vừa xa vời. Nhà thơ đã vô cùng khéo léo khi gợi ra tốc độ tương phản của thiên nhiên, của sự sống ở hai phân tầng cao-thấp, cũng như là suy nghĩ về đời sống, về thiên nhiên, đất nước, con người: đất nước nay đã hòa bình, nhịp sống đã trở lại chậm rãi, khoan thai, bình yên bên bầu trời thu xanh mát. Ở phía ngược lại, con người ta phải vội vã hơn, hối hả hơn trong công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước. Chính từ đây, mạch cảm xúc của bài thơ như mở rộng thêm ra, không chỉ là những tín hiệu giao mùa vô hình rồi rõ rệt mà còn mang ý nghĩa biểu tượng về sự giao thời: đất trời sang thu, đất nước sang thu, đời người sang thu, như sang một trang mới.
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa”
Vẫn theo dòng cảm xúc da diết từ hai khổ thơ trước, sang khổ thơ thứ ba, tác giả đã bộc lộ những suy tư, chiêm nghiệm của mình về cuộc đời con người. Hình ảnh nắng, mưa vốn là hiện tượng của thiên nhiên, vận hành theo quy luật rất riêng của nó. Nhà thơ đã khéo léo mượn những hiện tượng quen thuộc trong cuộc sống để miêu tả một cách sống động, cụ thể hóa khoảnh khắc giao mùa. Nắng vẫn còn. Nhưng không gay gắt. Nắng thu dịu nhẹ, trong trẻo đã đến. Nhà thơ đã tinh tế nhận ra sự hụt vơi về lượng mưa. Mưa ít đi. Ít cả về tần suất lẫn lượng nước, không dai dẳng như cơn mưa mùa hạ. Nhà thơ Hữu Thỉnh với lượng từ “bao nhiêu” đã cân đo sắc nắng trên bầu trời. Lượng mưa dần vơi, nhưng ai có thể đong đếm. Tất cả chỉ là ước lượng của chính bản thân tác giả. Đó chính là cách nói của nghệ thuật, mơ mộng và giàu cảm xúc. Như Nguyễn Đình Thi từng viết: “Có lẽ văn nghệ cũng rất kị trí thức hóa nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hóa là trừu tượng, khô héo”. Có thể nói, tác giả cùng với những biện pháp nghệ thuật tinh tế của mình đã thành công thổi hồn vào từng con chữ, đem cái chất thơ mộng, thắp sáng “sự sống” tươi trẻ của văn học bên trong tác phẩm. Và tất nhiên, phải chú ý kĩ lắm, phải thả hồn bay theo nhịp điệu diệu kỳ của thiên nhiên thì mới dám khẳng định như vậy. Hạ nhạt dần, thu đậm nét hơn. Không còn nghi hoặc, không còn mơ hồ thốt lên “hình như thu đã về” nữa, thay vào đó là khẳng định chắc nịch: “Mùa thu đã đến!”. Thời khắc cuối hạ, đầu thu, khi những cơn mưa ào ạt, xối xả không còn nhiều nữa thì sấm chớp trên bầu trời vẫn không còn rền vang dữ dội:
“Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
Những dòng thơ cuối cùng mang nhịp điệu trầm lắng hơn cả. Tác giả qua những hình ảnh có giá trị hiện thực lớn từ trong thiên nhiên đã gửi gắm vào đó những dòng suy ngẫm của đời mình, những chiêm nghiệm về thời kỳ đã qua. Hai câu thơ bộc lộ cái chất ngang tàng, kiêu dũng đến lạ. Hàng cây hẳn phải nhiều tuổi lắm, đã trải qua biết bao mùa thu, bao lần thay lá nay mới có thể điềm nhiên, hiên ngang đứng trước bão giông. Mọi sự vật đều thay đổi, những dấu hiệu cuối cùng của một mùa hè cháy bỏng đã giảm dần cường độ, trở nên thật mờ nhạt, nhường chỗ cho mùa thu điềm đạm, dịu dàng. Hai câu kết bài có thể nói là đắt giá nhất, lưu giữ toàn bộ giá trị của bài thơ. Chúng không chỉ mang hình ảnh tả thực mà còn có một tầng nghĩa ẩn dụ được tác giả cài cắm thâm thúy: sấm-hàng cây đứng tuổi. Sấm ở đây được tác giả nói đến như những vang động bất ngờ của ngoại cảnh, của cuộc đời, đôi khi làm con người ta giật mình sợ hãi. Hàng cây đứng tuổi hiện lên như những con người từng trải, đã có đủ kinh nghiệm sống để bình tĩnh đương đầu với những khó khăn, những rung chấn của cuộc sống. Chẳng mấy ai trong chúng ta có một cuộc sống êm ả, phẳng lặng, trải đầy hoa hồng. Bánh xe vận mệnh chẳng bao giờ chịu lăn trên một dặm đường bằng phẳng mà không có mô gò. Cuộc sống luôn tồn tại những điều bất ngờ, nếu không cuộc đời này sẽ chẳng còn thú vị. Sẽ luôn còn đó những chông gai, khắc nghiệt, từ đó ta mới rút ra được những kinh nghiệm sống quý giá cho mình. Như chính tác giả từng phát biểu: “Mùa thu trong “Sang thu” của tôi là mùa thu của những con người đã bước chân ra khỏi chiến tranh”. Họ bãn lĩnh, dũng cảm và hơn hết là dày dặn kinh nghiệm đường đời. Mỗi khi đất trời chuyển dần sang mùa thu, cũng là lúc Tổ quốc đón chào một mùa thu mới, khi lòng người cũng bước sang mùa thu. Điềm đạm hơn, không còn bồng bột, xốc nổi. Trong bốn mùa, mùa thu luôn là mùa nhẹ nhàng, trầm lắng nhất. Phải chăng, mùa thu của đời người là sự khép lại của những tháng ngày sôi nổi, cháy bỏng với ước mơ. Con ngõ mùa thu mở ra, cũng là mở ra một khung trời mới, yên tĩnh, bình tâm, chín chắn nhất cho ta. Đến đây, ta mới hiểu được hàm ý sâu xa trong những hình ảnh giàu sức gợi của Hữu Thỉnh. “Hương ổi” xộc vào miền thơ ấu, mở ra không gian mùa thu yên ả, “sương chùng chình” như luyến tiếc mùa hạ nồng ấm, luyến tiếc một thời thanh xuân lừng lẫy, “sông dềnh dàng-chim vội vã” như những đổi thay của đất nước, như bước chuyển mình, rũ bỏ bộ áo nhuốm đen màu chiến tranh khốc liệt để khoác lên tấm áo mới màu xanh hòa bình…Thật diệu kì làm sao, hiếm khi thấy được cái chất trữ tình tiềm tàng trong người thi sĩ, rất chín chắn, rất đời.
Bằng những hình ảnh thơ tự nhiên, từ ngữ mộc mạc, không trau chuốt, nhà thơ Hữu Thỉnh đã mang đến một “Sang thu” rất sâu sắc, rất đời. Bài thơ là bức tranh giao mùa rất đẹp, nên thơ. Tác giả lồng ghép vào mạch thơ những suy ngẫm, những chiêm nghiệm về cuộc đời của bản thân ông-một người lính bước ra từ chiến tranh, đón chào hòa bình, mùa thu bình yên của dân tộc. Bài thơ đã đánh thức tình cảm của độc giả về tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, con người và những suy nghĩ chín chắn, kĩ càng về cuộc đời mỗi người. Những triết lý sâu sắc hàm chứa trong những hình ảnh tuyệt đẹp, giàu sức gợi hình trong bài thơ xứng đáng biến “Sang thu” trở thành một trong những áng thơ thu xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.
Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!
Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK