Trang chủ Ngữ văn Lớp 9 Phân tích bài mùa xuân nho nhỏ câu hỏi 6891037

Phân tích bài mùa xuân nho nhỏ câu hỏi 6891037

Câu hỏi :

Phân tích bài mùa xuân nho nhỏ

Lời giải 1 :

Mùa xuân với sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, của đất trời luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca. Nhắc đến mùa xuân, người ta không thể không nhắc đến nhà thơ Thanh Hải. Ông là một người của con xứ Huế mộng mơ. Nhà thơ là một trong những cây bút xuất sắc, có những hoạt động cực kỳ nổi bật trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Nếu Nguyễn Bính có “Mùa xuân xanh”, Hàn Mặc Tử có “Mùa xuân chín” thì Thanh Hải cũng có riêng cho mình một tác phẩm viết về mùa xuân. Bằng âm điệu nhẹ nhàng, trìu mến, nhịp điệu luân chuyển, linh hoạt, ngôn ngữ chọn lọc, nhà thơ Thanh Hải đã viết nên tác phẩm “Mùa xuân nho nhỏ”. Dưới ngòi bút của người thi nhân tài hoa với tình yêu thiên nhiên sâu sắc, bài thơ đã khắc họa một cách rõ nét, sinh động cảnh mùa xuân trong trẻo, tươi mới của thiên nhiên đất trời hòa cùng không khí hân hoan của mùa xuân đất nước, mùa xuân mới của dân tộc.

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được tác giả sáng tác vào tháng 11, năm 1980 trên giường bệnh, trong tiết trời mùa đông se lạnh. Bài thơ là tác phẩm cuối cùng mà tác giả dành tặng lại cho thế hệ mai sau trước khi qua đời một tháng sau đó. Vậy điều gì đã thúc đẩy một con người sắp rời xa trần thế viết nên tác phẩm về mùa xuân tươi đẹp giữa trời đông lạnh giá? Đó chính là tinh thần lạc quan, yêu đời và hơn cả là yêu thiên nhiên, đất nước. Bằng con mắt tinh tường, sự quan sát tỉ mỉ, nhà thơ đã nhìn thấy, đã thu vào tầm mắt toàn cảnh thiên nhiên mùa xuân tràn đầy nhựa sống, vẽ nên một bức bích họa đầy màu sắc từ trong chính trí nhớ của bản thân mình về những mùa xuân đã qua.

“Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời”

Những nét phác thảo đầu tiên nhưng cũng không kém phần đặc sắc hiện ra trước mắt người đọc. Hình ảnh mùa xuân-mùa đầu tiên trong năm, là bước chuyển mình chào đón những sự sống mới, mùa của chồi non, lộc biếc đã được tác giả lột tả một cách chi tiết. Một bông hoa màu tím biếc mọc giữa dòng sông xanh thăm thẳm. Dòng sông gợi ra cho ta sự trong trẻo, mát lành của dòng nước mùa xuân. Bông hoa không chỉ mang màu tím thông thường mà được tác giả đặc tả bằng cụm từ “tím biếc”, làm bật lên sự nhẹ nhàng, trầm ấm, gợi lên nét thủy chung, son sắt là những nét chấm phá hoàn hảo trên dải nước trong veo, xanh thắm. Dòng nước là phông nền, làm tôn lên vẻ đẹp tự nhiên, làm cho bông hoa hiện lên thêm phần rõ ràng, nổi bật. Kết hợp với khung cảnh bầu trời mùa xuân cao và rộng, xanh ngắt và thoáng đãng, tạo thành một sự kết hợp hài hòa, cân đối, biến không gian thiên nhiên rộng rãi, to lớn thành một bức tranh phong cảnh khổ dài với đầy đủ các chi tiết rực rỡ sắc màu, mang đậm phong vị xứ Huế. Nhắc tới màu tím, ta bất chợt mường tượng đến Huế, với sắc tím mộng mơ ôm trọn cả một góc trời. Từ đây, ta có thể biết được, khung cảnh mùa xuân thơ mộng, tươi trẻ mà tác giả tưởng tượng ra trong suy nghĩ, cái mùa xuân mà ông mãi không thể quên được, chính là mùa xuân quê hương, mùa xuân xứ Huế. Cái sắc màu êm dịu, mang đầy tính biểu tượng ấy đã được tác giả khéo leo đan vào bài thơ, như một sự tưởng nhớ về cội nguồn, về quê cha đất tổ. Chưa dừng lại ở đó, cấu trúc đảo ngữ với động từ “mọc” ở hai câu thơ trên như để nhấn mạnh về hình ảnh bông hoa nhỏ bé. Nó không trôi dạt theo dòng nước mà đứng đó, từ từ vươn lên, kiêu hãnh nở rộ, mang lại vẻ đẹp, tỏa ngát hương thơm cho đời. Kế đó, ta như được nghe thấy, được cảm nhận tiếng hót líu lo, vang vọng trong không gian của chú chim chiền chiện nhỏ. Ta nghe thấy tiếng chim như thấy được sự rộn rã, tươi vui của một mùa xuân mới, nó thể hiện rõ tâm trạng say mê, ngất ngây của người thi nhân trước cái vẻ đẹp tươi vui, rộn ràng của mùa xuân quê hương. Tiếng chim chiền chiện như làm sống dậy bức tranh trong trí nhớ của tác giả, để ông cứ bồi hồi, xao xuyến nhớ về khoảng thời gian tươi đẹp ấy, tiếng hót líu lo như vực dậy tinh thần của con người đang chống chọi với bệnh tật. Những từ gọi đáp “ơi”, từ nghi vấn “chi” hiện lên hết sức tự nhiên, trìu mến và tha thiết, tiếng gọi ấy mới ngọt ngào, gần gũi, đáng yêu làm sao…Tiếng gọi như muốn níu lại, để đùa vui với thiên nhiên, muốn lưu giữ khoảnh khắc đẹp đẽ này. Từng chi tiết nhỏ, từng âm thanh trong tự nhiên đều được nhà thơ cảm nhận đầy đủ và rõ ràng, từ bông hoa bên dòng sông, tiếng chim ríu rít…tất cả chúng đều hòa quyện với ánh nắng xuân ấm áp, dịu dàng, lan tỏa khắp bầu trời, khắp mọi nẻo đường trên quê hương.

“Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng”

Hình ảnh “giọt long lanh” làm ta liên tưởng ngay đến những giọt sương mai trong vắt, đọng lại trên bông hoa hay trên cành lá. Trong bài thơ, tác giả còn sử dụng hình ảnh này với một tầng nghĩa ẩn dụ vô cùng tinh tế, giàu sức gợi cảm: hình ảnh giọt sương long lanh hay chính là những tinh túy, được kết tinh, được ngưng tụ lại từ chính vẻ đẹp của mùa xuân, từ tiếng chim líu lo trên cành lá. Trước những tinh hoa của trời đất ấy, nhà thơ đã có hành động “đưa tay hứng”. Một hành động thể hiện sự trân trọng, nâng niu những vốn quý của thiên nhiên, đây là một động tác tưởng chừng đơn giản những sâu bên trong lại ẩn chứa cái chất trữ tình đáng quý, sự tha thiết, trìu mến với mùa xuân. Bằng cách sử dụng phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhà thơ đã đưa bức tranh phong cảnh mùa xuân hữu tình với dòng sông, hoa lá, bầu trời - những hình ảnh mà ta cảm nhận bằng thị giác, đan cài vào đó là tiếng chim văng vẳng trong khoảng không mà ta nghe thấy được, biến hóa tất cả thành hình ảnh giọt long lanh mà ta có thể chạm vào, hứng lấy, có thể cảm nhận một cách chân thật nhất bằng đôi bàn tay con người. Một lần nữa ta có thể khẳng định chắc nịch rằng nhà thơ Thanh Hải là người rất yêu thiên nhiên, ông mở rộng tất cả các giác quan để cảm nhận sức sống căng tràn của mùa xuân mới, đón chào một bước tiến mới, một bước chuyển mình của thiên nhiên và của cả quê hương, đất nước, của dân tộc. Trong khổ thơ tiếp theo, vẫn là hình ảnh thiên nhiên mùa xuân căng tràn sức sống ấy, nay đã được tác giả thêm vào những dòng cảm xúc của bản thân mình về mùa xuân mới của đất nước, con người.

“Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài nương mạ

Tất cả như hối hả

Tất cả như xôn xao...”

Mở đầu khổ thơ là hình ảnh người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, có lộc giắt trên lưng. “Lộc” ở đây được nhắc đến như chồi non, những chiếc lá bé bỏng phát triển vào mùa xuân. Liên tưởng trực tiếp đến hình ảnh bộ quần áo bằng lá cây để ngụy trang, đồng hành cùng người chiến sĩ trong lối đánh “du kích” nổi tiếng của bộ đội ta. Tiếp đó, ta lại nhìn thấy hình ảnh người nông dân tham gia sản xuất phục vụ đất nước: “Mùa xuân người ra đồng”. Hình ảnh “lộc” một lần nữa xuất hiện, “lộc” khiến ta nghĩ ngay đến những mầm mạ tươi mới, được người ươm mầm trên cánh đồng quê hương. Chính nhờ màu xanh ngắt hy vọng của hình ảnh “lộc” đã tiếp thêm sức mạnh, thêm ý chí để những người lính, người nông dân cống hiến hết mình cho Tổ quốc, thể hiện sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, tràn đầy nhựa sống trên khắp đất nước. Tác giả đã khéo léo lồng ghép vào khổ thơ trên rất nhiều những yếu tố nghệ thuật đặc sắc, đủ khả năng lột tả được nhịp sống mới của dân tộc, nêu lên nghĩa vụ thiêng liêng của hai lớp người làm những nhiệm vụ quan trọng: lao động và chiến đấu, xây dựng và bảo vệ đất nước, hai nhiệm vụ cốt yếu, không thể tách rời. Đầu tiên là biện pháp điệp cấu trúc câu: “Mùa xuân…/Mùa xuân…” và điệp từ “lộc”. Hình ảnh “mùa xuân” ở đây là niềm vui, niềm đam mê với công việc, từ người lính nơi tiền tuyến đến người nông dân làm công tác hậu phương. Họ tìm thấy trong công việc là những cảm giác mới mẻ, họ có khát khao, sẵn sàng đóng góp một phần của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Họ cũng chính là người mang đến mùa xuân hòa bình cho dân tộc, đem không khí mùa xuân đến mọi miền Tổ quốc, chính họ đã gieo rắc nguồn sống, ươm mầm cái “lộc”, tạo nên sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt của mùa xuân nơi quê hương, đất nước. Nhịp thơ dần trở nên dồn dập, hồ hởi ở hai câu thơ cuối của khổ: “Tất cả như hối hả/Tất cả như xôn xao”. Một lần nữa, phép điệp từ “tất cả” lại được tác giả sử dụng, đi kèm với các từ láy tượng hình “hối hả”, từ láy tượng thanh “xôn xao”, mang đậm tính gợi hình, gợi cảm. Tính từ “hối hả” làm ta tưởng tượng ra nhịp sống sôi động trong quá trình kiến thiết đất nước, “xôn xao” khiến ta nghĩ tới những âm thanh liên tiếp vọng về, xao động một vùng trong tâm trí tác giả. Chúng xoáy mạnh như sóng trong lòng nhà thơ, như reo vui, náo nức trước tinh thần lao động khẩn trương của con người. Cái hối hả ấy phần nào tạo nên một mùa xuân tươi vui của đất nước, của người cầm súng, người ra đồng. Dù trước mắt còn nhiều gian lao, vất vả, nhà thơ vẫn mang trong mình niềm tin không thể lay chuyển, sự tự hào về tươi lai tươi sáng của đất nước, của dân tộc, để chào đón mùa xuân ngày càng tươi sáng, càng rộn ràng, ngập tràn hạnh phúc. Niềm tự hào dân tộc cháy bỏng trong tim tác giả đã được ông gói gọn trong bốn câu thơ:

“Ðất nước bốn ngàn năm

Vất vả và gian lao

Ðất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước.”

Những câu thơ thể hiện một cách rõ nét sự tự hào của tác giả với đất nước, với bề dày lịch sử bốn ngàn năm văn hiến cùng những truyền thống quý báu của dân tộc. Hệ thống tính từ “vất vả”, “gian lao” đã phần nào đặc tả sự khó khăn, gian khổ mà nhân dân ta đã trải qua trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tác giả yêu, ví đất nước như vì sao: những vì sao lấp lánh trên bầu trời đêm, đẹp đẽ và trường tồn, những ngôi sao tỏa ra thứ ánh sáng êm dịu, những ngôi sao tượng trưng cho hi vọng về tương lai tươi sáng của Tổ quốc. Đất nước sẽ vẫn vững vàng mà đi lên phía trước, sánh vai với các cường quốc năm châu. Chính từ niềm tin yêu mãnh liệt vào đất nước, vào dân tộc của mình mà trong lòng tác giả đã bùng cháy lên những ước nguyện, những khao khát bỏng cháy được góp một phần nhỏ của mình vào tương lai của Tổ quốc, được cống hiến hết mình cho đất nước ngày càng phát triển. Ông muốn làm những điều có ích, có ý nghĩa, có giá trị sâu sắc cả về vật chất lẫn tinh thần cho đất nước, bày tỏ những mơ ước ấy qua những hình ảnh giản dị, mộc mạc nhưng mang một vẻ đẹp tinh túy từ trong tâm hồn:

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hoà ca

Một nốt trầm xao xuyến.”

Nhà thơ muốn làm con chim hót, một chú chim nhỏ bé giữa muôn vàn tiếng chim, muôn vàn âm thanh đặc sắc, dâng tiếng hót vui cho đời, làm một cành hoa tỏa hương ngào ngạt giữa một rừng hoa xuân rực rỡ, muôn màu muôn vẻ, làm một nốt trầm trong bản hòa ca của dân tộc. Trong một bản nhạc, vốn dĩ nốt trầm không có vẻ gì là nổi bật, đặc sắc, tuy nhiên, nếu thiếu đi nó thì nốt cao sẽ trở nên mờ nhạt, không thể tỏa sáng. Đây cũng chính như mong ước của tác giả, lặng lẽ đem một chút gì đó của bản thân mình cống hiến cho đất nước, cho dân tộc, cho cuộc đời chung. Đó là những khao khát tuy lớn lao và ý nghĩa, ước vọng được hóa thân đó vô cùng cháy bỏng nhưng lại được nhà thơ thể hiện một cách khiêm nhường, lặng lẽ. Đó là cách nói khiêm tốn, chân thành và giản dị, là lối sống cao đẹp. Ông không mưu cầu được tôn vinh, được trả ơn cho những gì mình cống hiến vì đơn giản là ông yêu đất nước, yêu con người. Nhà thơ mang theo một tâm niệm đáng trân trọng, thông qua nghệ thuật điệp ngữ “ta” như một lời khẳng định chắc nịch, không chỉ là khát vọng của riêng nhà thơ mà cong là ước nguyện chung của tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi trên Tổ quốc. Tác giả với nguyện ước chân thành của mình đã lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước, con người, mơ ước được sống và trở thành người có ích cho đất nước, cho xã hội. Tác giả muốn, cũng như mong muốn mỗi người trong số chúng ta đều sẽ hóa thân thành một mùa xuân nho nhỏ hòa vào cuộc sống, cống hiến hết mình cho đời. Mỗi người trong số chúng ta đều được góp một phần nhỏ vào công cuộc dựng xây đất nước, không phân biệt tuổi tác:

“Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc.”

Cái khát vọng được cống hiến cho đời ấy dựa trên sự tự nguyện của mỗi con người, nó lớn lao, cháy bỏng đến mức có thể vượt qua rào cản qua thời gian, của tuổi tác, của bệnh tật. Cụm từ “dù là” được nhắc đến hai lần, làm cho giọng thơ trở nên trầm lắng, da diết, ý thơ được đặc biệt nhấn mạnh kết hợp với phép hoán dụ tương phản “tuổi hai mươi-khi tóc bạc” làm cho người đọc xúc động dạt dào trước những lời tâm tình thiết tha của một con người sắp rời xa nhân thế, của một con người đã trải qua hai cuộc kháng chiến với bao mất mát, đau thương, cống hiến trọn đời cho mùa xuân của Tổ quốc. Giờ đây, khi gần đất xa trời, ông vẫn tha thiết được sống có ích, sống đẹp với tất cả sức sống tươi trẻ của mình. Cuối bài thơ, tác giả vẫn không quên để lại một lời ngợi ca quê hương, đất nước thông qua những làn điệu dân ca Huế mà ông đã quen thuộc từ thuở ấu thơ.

“Mùa xuân - ta xin hát

Câu Nam ai, Nam bình

Nước non ngàn dặm mình

Nước non ngàn dặm tình

Nhịp phách tiền đất Huế.”

Nhà thơ Thanh Hải đã khéo léo lồng ghép vào khổ thơ những đặc trưng văn hóa nơi quê hương mình, làm tăng giá trị biểu hiện của cả khổ thơ, cho ta thấy một khổ thơ thấm nhuần thi vị Huế. Khổ thơ mang âm điệu đằm thắm, dịu dàng, như một nhịp láy của khúc dân ca: “Nước non ngàn dặm mình/Nước non ngàn dặm tình” càng tăng thêm vẻ trữ tình hòa trong cái vẻ đẹp thơ mộng của đất nước. Khép lại bài thơ là điệu Nam ai buồn thương cho ta nhớ về những hi sinh, mất mát của thế hệ cha ông, điệu Nam bình ngọt ngào, du dương như cuộc sống hòa bình, yên ấm hiện tại. Từng nhịp, từng nhịp thơ như đánh thức cảm xúc trong lòng người đọc, làm ta liên tưởng đoạn thơ như một khúc hát chào xuân, để lại trong ta những dư âm xao xuyến. Nhà thơ hẳn phải yêu đời, lạc quan lắm mới có thể cất lên tiếng hát từ quê hương trong hoàn cảnh éo le ấy, điều này làm ta càng thêm quý tiếng hát và tấm lòng của ông hơn. Hình ảnh “nhịp phách tiền” kết thúc bài thơ đã một lần nữa khẳng định tấm lòng thủy chung, son sắt của nhà thơ với quê hương, với xứ Huế mộng mơ mà ông hằng thương nhớ.

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” có thể nói là một trong những tác phẩm viết về mùa xuân hay và sâu sắc nhất, kể cả khi tác giả đang nằm trên giường bệnh. Chỉ mường tượng về mùa xuân trong kí ức mà đã có thể viết nên những vần thơ da diết đến vậy thì nhà thơ Thanh Hải quả là người có tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, yêu Tổ quốc nồng nàn biết mấy. Bài thơ thể hiện khát khao cháy bỏng được cống hiến hết mình cho đất nước dù đang ở trong hoàn cảnh khó khăn của nhà thơ, cũng là lời nhắc nhở, là mong muốn cuối đời của ông về một thế hệ trẻ có thể cống hiến hết mình cho Tổ quốc, cho dân tộc. Mỗi chúng ta, dù là ít hay nhiều cũng hay góp một phàn của mình vào công cuộc kiến thiết nước nhà để đất nước ngày càng phát triển, mãi mãi trường tồn, mãi mãi phồn vinh.

Bạn có biết?

Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!

Nguồn :

TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

Tâm sự lớp 9

Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!

Nguồn :

sưu tập

Liên hệ hợp tác hoặc quảng cáo: gmail

Điều khoản dịch vụ

Copyright © 2021 HOCTAPSGK