Em hãy phân tích Đoàn Thuyền Đánh Cá của tác giả Huy Cận
Nhà thơ Huy Cận là một người con đất Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới, là một trong những cây bút xuất sắc của cách mạng Việt Nam. Các sáng tác của ông trải dài trên nhiều đối cực, song đều có cùng một giọng thơ buồn, ảo não. Nguồn cảm hứng của nhà thơ chủ yếu đến từ con người, vũ trụ, thiên nhiên với không ít các bài thơ mang hình ảnh trung tâm là con người lao động, thiên nhiên đất trời,…Tiêu biểu trong số đó phải nhắc đến bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”. Bài thơ với hình ảnh những người dân lao động hăng say, nhịp thơ hồ hởi, tươi tắn đã đánh dấu sự khởi đầu của hồn thơ Huy Cận vui tươi, dồi dào cảm xúc với thiên nhiên, đất nước.
Bài thơ được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh hẹp-chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Sau Cách mạng tháng Tám, miền Bắc nước ta bước vào quá trình thay da đổi thịt, bước lên Chủ nghĩa xã hội. Nhân dân tích cực lao động hàn gắn vết thương chiến tranh. Trong hoàn cảnh ấy, hồn thơ Huy Cận nảy nở mạnh mẽ hơn bao giờ hết, ông đã trải qua một mùa thơ rực rỡ với niềm vui, niềm tin yêu mãnh liệt về tương lai đất nước. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã đặc tả rõ nét một chuyến ra khơi của người dân làng biển, mở đầu bài thơ là hình ảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”
Hình ảnh hoàng hôn tráng lệ trên biển, cũng là lúc đoàn thuyền đánh cá ra khơi được miêu tả tinh tế, gợi cảm. Măt trời được tác giả ví như “hòn lửa”, cháy sáng đem đến cho bức tranh bầu trời hoàng hôn một vẻ đẹp nguy nga, rực rỡ. Tác giả dùng phép so sánh như hiện thực hóa hình ảnh mặt trời, đưa vì tinh tú vốn cách rất xa con người như hiện hữu trước mặt, không gay gắt mà dịu nhẹ, ấm áp vô cùng. Tiếp đến, nhà thơ đã rất tinh tế khi sử dụng phép nhân hóa, ẩn dụ: “Sóng đã cài then, đêm sập cửa”. Màn đêm dần buông, người đọc như cảm nhận thấy sự tĩnh lặng, bình yên, có đôi chút rợn ngợp giữa biển khơi khi thiên nhiên, biển cả như đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Với nhà thơ Huy Cận, cảnh biển đêm không bao giờ là đáng sợ, lặng im. Nó mang những âm thanh rì rào êm dịu, vỗ về lòng ta như tiếng ru ơi à chứ không lặng ngắt. Biển đêm không tăm tối mà mang cái ánh sáng long lanh, ngây ngất. Vũ trụ hiện ra như một ngôi nhà khổng lồ, bao chứa tất cả. Với những cơn sóng lượn dài là then cài, màn đêm buông xuống như cánh cửa. Đoàn thuyền trên biển chỉ là một chi tiết nhỏ bé giữa mặt biển bao la, rộng lớn. Nhưng trái ngược hoàn toàn với hình ảnh con người lẻ loi, cô đơn giữa thiên nhiên bao la trong thơ ông trước đó, vũ trụ trong thơ Huy Cận nay đã hiện lên như một bức phông nền, làm nổi bật hình ảnh con người xuất hiện:
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
Đoàn thuyền đánh cá một lần nữa “lại” ra khơi như thường lệ, tuần tự và nhịp nhàng. Gợi tả công việc tuy quen thuộc nhưng không nhàm chán, không phải một vòng lặp đơn điệu. Mỗi chuyến ra khơi là một sự mới mẻ, một cảm giác khác lạ. Nhạc điệu trong hai câu thơ mạnh mẽ, thể hiện khí thế phấn chấn, khỏe khoắn của những người lao động, khẩn trương làm việc bất kể ngày đêm. Hình ảnh ẩn dụ “Câu hát căng buồm với gió khơi” mang tính khoa trương. Con người như hòa nhịp với thiên nhiên xung quanh, với sóng biển rì rào, với gió khơi hun hút. Họ nay đã không còn sợ hãi trước thiên nhiên vũ trụ bao la mà song hành cùng nó. Thiên nhiên che chở và hỗ trợ con người trong lao động. Giữa mệt mỏi của bồn bề công việc, tiếng hát tươi mới mang đến niềm tích cực cho con người. Tiếng hát khỏe khoắn tiếp sức cho đoàn thuyền. Tiếng hát ấy vang vọng giữa biển khơi. Hồ hởi và phấn chấn, làm bật lên sức mạnh của những người ngư dân xuất quân chinh phục biển cả. Tiếng hát cất lên như niềm mong ước của người đánh cá, họ ước mong một chuyến ra khơi bội thu, hi vọng biển cả sẽ mãi phì nhiêu, giàu đẹp. Thiên nhiên rộng lớn giờ đây không còn có thể làm cho con người chùn bước hay cô đơn, sợ hãi. Họ sẽ từng bước, từng bước chinh phục nó. Vũ trụ giờ đây trở nên hiền hòa như một người mẹ, bao bọc và chở che những đứa con của mình.
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Người ngư dân cất lên câu hát trong suốt quá trình làm việc, từng câu hát như nâng lên cánh buồm được nêu lên rõ ràng, chi tiết. Trong câu hát tươi vui ấy, ta thấy được các loài hải sản: cá bạc, cá thu hiện lên giản dị, chúng là những hiện thân tiêu biểu nhất của biển khơi, là thành quả lao động của người dân chài cần cù. Huy Cận khéo léo so sánh đàn cá thu với đoàn thoi, cho ta thấy sự trù phú của vùng biển Quảng Ninh bao la, gợi nên niềm tự hào về sự giàu đẹp của tài nguyên nước nhà. Thể hiện một khát vọng cháy bỏng về một chuyến ra khơi bội thu. Hình ảnh “biển Đông” không ngẫu nhiên được nhắc lại đến hai lần mà là một chủ ý của tác giả, nêu lên tinh thần tự cường của dân tộc trên chính lãnh thổ quê hương mình, cố gắng vươn lên trong cuộc sống từ những gì mẹ thiên nhiên ban tặng. Hai câu thơ sau của khổ thơ mới là đắt giá hơn cả, nó như nhãn tự của cả khổ thơ, với những hình ảnh được vận dụng nghệ thuật nhuần nhuyễn, tinh tế. Phép tiểu đối “đêm-ngày” vừa gợi nên sự đối lập trong không gian vũ trụ, là quy luật vận động của thiên nhiên; vừa gợi lên sự nhịp nhàng, liền mạch trong công cuộc lao động của người ngư dân miền biển. Không gian kỳ bí, tĩnh lặng, có phần tăm tối của biển về đêm đã được thắp lên ánh sánh lấp lánh của luồng cá. Tựa như ánh sao trời, ánh sáng lấp lánh, thoắt ẩn thoắt hiện dưới nền biển xanh về khuya ấy thật êm dịu, là ánh sáng của ước mơ về cuộc sống đủ đầy, trọn vẹn. Cuối khổ thơ là hình ảnh nhân hóa: “đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi”. Nhà thơ gọi đoàn cá bằng một giọng điệu thiết tha, vẻ mong chờ của một con người gắn bó với mặt biển. Một lần nữa nhấn mạnh khát vọng về những mẻ lưới đầy, về tương lai tươi đẹp. Từ hai khổ thơ trên, nét đối lập giữa thiên nhiên và con người được làm rõ: đêm đến, khi vũ trụ rơi vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người lao động lại bắt đầu cuộc hành trình chinh phục thiên nhiên của mình. Những câu hát vui tươi đã tiếp thêm sức mạnh cho họ-những con người lạc quan, yêu đời. Dù thiên nhiên có bao la, bí ẩn đến đâu cũng không làm họ chùn bước. Hình ảnh một đêm hăng say làm việc của ngươi dân chài được tác giả khắc họa rõ nét trong khổ thơ kế:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng”
Khổ thơ mở ra bằng nhiều hình ảnh đẹp, giàu sức gợi hình, mang tính chọn lọc cao. Nhà thơ Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi chọn hình ảnh thơ thật lãng mạn, thấm nhuần thi vị: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/Lướt giữa mây cao với biển bằng”. Cụm từ “thuyền ta” được thốt lên tự nhiên, với một thái độ tự hào, thể hiện sự kiêu hãnh từ trong khí chất của những người chinh phục. Với nguồn cảm hứng đầy chất thơ, tác giả đã khám phá ra nhiều nét đẹp đáng yêu của con người lao động cùng niềm vui phơi phới, khỏe khoắn trong tư thế chủ động trước tự nhiên. Nghệ thuật nhân hóa “thuyền-lái gió-lướt giữa mây cao” phải nói là rất đắt giá. Tác giả với bút pháp lãng mạn đã cường điệu hóa tầm vóc của con người trước thiên nhiên. Hình ảnh người ngư dân giờ đây to lớn, vĩ đại, hoàn toàn làm chủ được những yếu tố kì vĩ trên nền vũ trụ bao la. Con thuyền vốn vô tri vô giác, lạc lõng giữa khơi xa giờ đây hòa nhịp với không gian rộng lớn. Nếu Tế Hanh ví “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” thì đối với Huy Cận, hình tượng con thuyền của ông có phần lãng mạn hơn. Gió biển làm bánh lái, với mặt trăng là cánh buồm, băng băng lướt giữa mây cao và mặt biển. Động từ “lướt” được chọn lọc tinh tế, mô tả con thuyền chuyển động thật nhẹ nhàng, mang cái chất riêng của thơ Huy Cận. Kết cấu tương giao “mây cao-biển bằng” thể hiện bình yên, phẳng lặng của biển khơi, như tạo điều kiện cho con người, gợi nên sự đồng hành giữa thiên nhiên và con người, hỗ trợ lẫn nhau của hai đối cực trái ngược, từ đó, những người ngư dân-chủ nhân của con thuyền cũng trở nên thơ mộng, lồng lộng giữa biển trời trong tư thế làm chủ, nổi bật ở chính giữa thời không. Đoàn thuyền, cùng nhau, đậu lại ngoài khơi xa để “dò bụng biển”. Tấm lòng đoàn kết gắn bó, kết hợp với sự hiểu biết uyên thâm của những người lao động đã giúp họ “dàn đan thế trận”, chinh phục biển cả, dò tìm luồng cá. Người lao động với khí thế mãnh liệt, phấn chấn, đầy khoan khoái. Giờ đây đất nước đã hoàn toàn độc lập, người dân tự do lao động vì lợi ích của chính bản thân mình càng thêm năng nổ, tươi vui. Trong tâm hồn những con người lao động cực nhọc từ ấy mà nảy ra chất thơ, kì diệu mà độc đáo.
“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”
Từng luồng cá hiện ra, trù phú, tráng lệ. Bức tranh lao động được tô điểm bởi vẻ đẹp hoành tráng của thiên nhiên. Những người lao động đã làm việc với hết tất cả lòng dũng cảm, trí tuệ, tâm hồn của mình. Giờ đây là lúc họ gặt hái được thành quả. Từng đàn, từng đàn cá bủa vây đoàn thuyền. Nào là cá nhụ, cá chim, cá đé,… Biển cả gắn bó mật thiết với tâm hồn người dân chài lưới. Nó quen thuộc đến nỗi họ như nắm biển trong lòng bàn tay, và định hình lũ cá chỉ qua một cái nhìn, dù là trong đêm tối. Cảnh biển khuya bao la, rợn ngợp và tĩnh mịch. Giữa đêm đen, ánh trăng sáng long lanh hơn cả. Trăng tỏa bạch quang soi xuống mặt nước, phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ luồng cá. Ông còn đặc tả chi tiết loài cá song, với cụm từ “lấp lánh”, nâng tầm vẻ đẹp của hình ảnh giản dị. Bằng thủ pháp liệt kê cùng sự phối hợp màu sắc tài tình: đen hồng-vàng chóe, nhà thơ như vẽ nên một bức tranh về biển với đầy đủ các chi tiết, với sắc độ riêng biệt, hòa lẫn vào nhau. Đàn cá bơi quanh thuyền, sáng rực như mở hội. Mỗi lúc “cái đuôi em quẫy” làm tan vỡ ánh trăng vàng, xao động ánh sáng thì biển đêm lại rực rỡ, sống động hẳn lên. Vẻ đẹp hoành tráng của tự nhiên không chỉ đến từ màu sắc, ánh sáng mà còn là những âm thanh êm dịu. Tác giả ấn tượng trước âm thanh lạ kỳ của thiên nhiên, ví von màn đêm như đang thở. Từng nhịp chậm rãi, nhẹ nhàng. Biển khuya như có sinh khí, như một linh hồn cuộn trào sức sống. Mãi sau này, nhà thơ vẫn âu yếm viết “Tiếng biển về khuya như tiếng lụa/Non tơ, êm ả lại bền hơi”. Đủ cho ta thấy tâm hồn thi ca nảy nở mãnh liệt trong người thi sĩ tài hoa với những áng thơ xứ sở. Hình ảnh “sao lùa nước Hạ Long” rất giàu sức gợi. Đó là sự hòa quyện giữa những hình ảnh nên thơ nhất xuất hiện trong không gian bấy giờ. Với sức sống căng tràn, những ngôi sao khỏa nhịp cùng với nhịp thở của mặt biển, qua phép nhân hóa lại càng nên thơ, giàu sức tạo hình. Người ngư dân yêu nghề, yêu biển bằng cả con tim, họ biết ơn thiên nhiên:
“Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”
Người dân chài một lẫn nữa cất lên tiếng hát say sưa, với niềm mong ước về một mẻ lưới nặng và niềm vui thú, vẻ phấn chấn từ trong giai điệu. Với tình yêu lao động, họ hồ hởi chào đón luồng cá đang bủa vây mảnh lưới của mình. Từng nhịp gõ thuyền gọi cá đồng điệu, nhịp nhàng hòa với “nhịp trăng cao”. Những đàn cá không còn là vật được khai thác, mà là đối tượng tâm tình, để tác giả gửi vào cái lãng mạn. Thiên nhiên và con người đã hòa vào làm một, đạt đến mức giao hòa tuyệt đối. Vũ trụ như đang nâng đỡ, hỗ trợ con người. Nhịp trăng cũng như nhịp điệu của vũ trụ, đan vào lời hát, làm cho con thuyền bay bổng, phóng đại đoàn thuyền lên cấp vũ trụ bao la. Và rồi ở hai câu thơ cuối, nhà thơ so sánh biển với lòng mẹ, cho ta thấy tấm lòng hào phóng của thiên nhiên. Nghĩ mà xem: biển cả bao la rộng lớn, có đến từng ấy nước mà ta vẫn có thể chết khát. Chưa kể đến những con sóng dữ dội, sẵn sàng nhấn chìm con người ta,… Đây quả là một phép so sánh có phần khập khiễng. Tuy vậy, nhà thơ Huy Cận không màng đến phần khắc nghiệt ấy, ông chỉ hướng về phía tốt đẹp hơn: biển cho con người bao nhiêu tôm cá-nguồn thực phẩm nuôi dưỡng con người. Nói cách khác, biển như nguồn sống của người ngư dân, bao dung, che chở con người như tấm lòng người mẹ. Thể hiện tấm lòng biết ơn sâu sắc của những người lao động miền biển và của chính bản thân nhà thơ đến biển, đến tự nhiên. Huy Cận từ hai câu thơ trên đã gửi gắm vào bài thơ một thông điệp. Một thông điệp về tình yêu thiên nhiên, biết trân trọng những gì thiên nhiên mang lại, mà hơn hết là phải biết bảo vệ tài nguyên quý giá mà ta được ban tặng. Sau một đêm lao động hăng say, thành quả thu về được nhà thơ miêu tả chi tiết:
“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.”
Những hình ảnh thiên nhiên một lần nữa hiện lên hoành tráng, gợi ra khung cảnh bình minh đang đến. Trời hửng dần. Sáng sủa. Nhịp chuyển động của thời gian đã hối thúc người dân chài hoàn thành công việc của mình để “kịp trời sáng”. Hình ảnh tả thực “kéo xoăn tay” phần nào nói lên sức nặng của mẻ lưới cá, giúp người đọc hình dung được thành quả tuyệt vời mà người ngư dân đạt được. Nó còn cho ta cái nhìn trực quan về con người chài lưới. Một vẻ đẹp khỏe khoắn, sự vạm vỡ, cường tráng. Cánh tay lực lưỡng, rắn chắc kéo mẻ lưới lên thuyền, nhanh gọn, nhịp nhàng. Những người lao động miền biển vốn đã mạnh mẽ, hay theo như Tế Hanh: “cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Nhịp thơ 2/2/3 nhanh, gấp gáp cũng như nhịp sống và lao động liên tục, không ngừng nghỉ của con người. Từ đó, vẻ đẹp diễm lệ, hào nhoáng bật toát lên từ những con người lao động bình dị, chất phác đã được nhà thơ cô đọng lại bằng tình yêu trước cuộc đời của mình. Hai câu thơ trên chính là kết tinh cao đẹp từ chất thơ trong con người lao động và cái tình trong tâm hồn người thi sĩ.
“Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
Sau một đêm làm việc không ngừng nghỉ, bình minh lên cũng là lúc nhìn lại thành quả. “Chùm cá nặng” được xếp lên thuyền, với những màu sắc lấp lánh: “vẩy bạc, đuôi vàng” lóe lên dưới ánh sáng bình minh rực rỡ. Xong việc, người ngư dân xếp lại mảnh lưới, một lần nữa căng lên cánh buồm, lần này là để trở về. Bình minh đã lên, nắng hồng ấm áp soi rọi, mặt biển như lấp lánh, người ngư dân trở về trong niềm vui phơi phới:
“Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
“Câu hát căng buồm” mở ra bức tranh lao động tráng lệ, cũng là hình ảnh khép lại bức tranh ấy. Câu hát phơi phới đã căng lên cánh buồm, để con thuyền lướt phăng phăng trên ngọn sóng. Hình ảnh nhân hóa “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” như tượng trưng cho vẻ hùng dũng, khí thế phấn chấn của con người trong công cuộc chinh phục biển khơi rộng lớn. Con người chạy đua cùng chuyển động của vũ trụ, và con người đã thắng. Tầm vóc con người trở nên to lớn, kỳ vĩ với thiên nhiên, thể hiện tư thế làm chủ tự nhiên. Mặt trời “đội biển” ló dạng ở đằng Đông, làm bừng sáng bức tranh thiên nhiên và người lao động huy hoàng, vốn đã hết sức hoành tráng, vĩ đại. Niềm vui chiến thắng sau một đêm mệt nhọc của những người ngư dân như lan tỏa khắp mặt biển. Vinh quang ấy đến thật giản dị, nhỏ bé qua hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Cụm từ “muôn dặm” vẽ ra không gian cao rộng, bao la. Mắt cá nhìn về dặm đường phía trước cũng như nhìn về tương lai, nói lên niềm tin sắt đá của con người lao động ta về một xã hội mới tiên tiến và phát triển, về một đất nước mãi mãi trường tồn, mãi mãi phồn vinh.
Khép lại bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”, ta không thôi nghĩ về viễn cảnh người lao động chinh phục thiên nhiên to lớn, với khúc ca khải hoàn hùng tráng. Bằng nhịp thơ hồ hởi, ngôn ngữ chân thực, nghệ thuật miêu tả sống động, nhà thơ Huy Cận đã khéo léo đem đến cho người đọc cái nhìn trực quan về con người lao động miền biển. Ông gửi vào đó thông điệp từ đáy lòng mình về tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu lao động của người ngư dân với khát khao chinh phục thiên nhiên và sự cảm thán trước từng bước đi lên của xã hội. Quy tụ những yếu tố trên, “Đoàn thuyền đánh cá” xứng đáng trở thành một trong những áng thơ về thiên nhiên-con người xuất sắc nhất, tồn tại mãi với thời gian.
Ngữ văn là môn khoa học nghiên cứu ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại. Đây là môn học giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư tưởng. Việc đọc và viết trong môn Ngữ văn không chỉ là kỹ năng, mà còn là nghệ thuật. Hãy để ngôn từ của bạn bay cao và khám phá thế giới văn chương!
Lớp 9 - Là năm cuối ở cấp trung học cơ sở, chúng ta sắp phải bước vào một kỳ thi căng thẳng và sắp chia tay bạn bè, thầy cô. Áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh và tương lai lên cấp 3 thật là lớn, nhưng hãy tin vào bản thân và giữ vững sự tự tin!
Copyright © 2021 HOCTAPSGK